Thứ 6, 07/10/2022 - 17:06
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

AGRICULTURAL RESTRUCTURING ADAPTING TO CLIMATE CHANGE IN MEKONG DELTA

Session: Mobilizing resources for sustainable and climate smart livelihood models
Speaker/Panellist: Jake Brunner, Head of Indo Burma Group, IUCN

Speaking Points:

  • Mekong Delta’s coastlines are characterized by:
    • A low compacted-earth sea dyke with a thin mangrove veneer to protect the dyke from erosion and over-topping.
    • A subsiding treeless landscape behind the sea dyke dominated by intensive shrimp farming that is vulnerable to storm surges from projected more extreme storms (Typhoon Linda caused a 1.5 m storm surge in 1997 which over-topped the dykes)
    • The mangroves will disappear from a SLR-induced coastal squeeze, increasing the disaster risks from storm surges and winds. The increasing possibility of >1 m SLR makes this outcome inevitable. 
  • The treeless intensive shrimp landscapes behind the sea dykes must be transformed into mangroves in order to create a wide protection zone such as that found along the southeastern coast of Ca Mau.
  • The challenge:
    • Much of the coastal land behind the sea dyke is privately held by businesses or households making the compensation costs of rezoning the land to public land prohibitively expensive.
    • Structural solutions will be equally expensive and may only have a limited shelf life as is being acknowledged in many cases globally. After spending $14 billion to upgrade the flood protection dykes around New Orleans, the US Army Corp of Engineers recently admitted that these fail to provide adequate protection in as little as 4 years because of SLR and subsidence (https://www.scientificamerican.com/article/after-a-14-billion-upgrade-new-orleans-levees-are-sinking/?redirect=1).
  • Solutions involving restructuring these highly vulnerable landscapes include:
    • Over the long term, withdraw shrimp investor licenses when they expire and rezone the area for mangrove forests to sell carbon credits to recoup costs. Mangrove recovery along these coastal zones could increase mangrove cover by 50,000 hectares.
    • In the short term, provide tax incentives and land for households and businesses to move their shrimp production into more efficient (less land area per unit of output) and climate-resilient indoor shrimp farming systems that no longer depend on groundwater pumping. In return, these land holders agree to convert their land to organic integrated mangrove shrimp systems.
    • Utilise public and private (e.g., impact investors) funding to catalyse household use of efficient small-scale low-risk recirculating water tank technology to shift intensive shrimp production out of farm ponds so that land can be converted to integrated mangrove shrimp systems. Current intensive shrimp pond output from a one-hectare farm can be moved into recirculating water tanks that take up just 600 m2 leaving the rest of the farm area to be converted to integrated mangrove shrimp production.           

Điểm nói:

  • Một số đặc điểm bờ biển vùng Đồng bằng sông Cửu Long:
    • Hệ thống đê thấp bằng đất rất dễ bị xói mòn và nước tràn qua do chỉ có một dải mỏng rừng ngập mặn chắn phía ngoài.  
    • Các khu vực trũng thấp, trống, chủ yếu là khu vực nuôi tôm thâm canh, rất dễ bị ảnh hưởng bởi nước dâng do bão. Trong tương lai, các cơn bão còn được dự báo sẽ khốc liệt hơn. (ví dụ: bão Linda năm 1997 gây nước dâng cao 1.5m tràn qua bờ đê) 
    • Trong tương lai, RNM phòng hộ bờ biển có nguy cơ biến mất hoàn toàn do tác động của nước biển dâng, gây ra hiện tượng bóp nghẹt vùng bờ. Nguy cơ xảy ra thảm họa thiên tai do bão biển đối với đê và vùng canh tác phía sau là rất rõ nét. Với kịch bản nước biển dâng nhiều mét trước 2100, các nguy cơ này còn bị đẩy nhanh hơn trong tương lai
  • Các khu vực đất trống đang nuôi tôm thâm canh phía sau đê cần được chuyển đổi trồng rừng ngập mặn để tạo ra một vùng phòng hộ rộng, như mô hình đang được áp dụng dọc ven biển phía đông nam tỉnh Cà Mau.
  • Một số thách thức:
    • Phần lớn đất ven biển phía sau đê thuộc sở hữu tư nhân/cá thể nên chi phí bồi thường để chuyển đổi thành đất công vô cùng đắt đỏ.
    • Các giải pháp cứng cũng sẽ rất tốn kém và chỉ có thể một thời hạn sử dụng nhất định như trong nhiều trường hợp trên thế giới. Ví dụ, sau khi chi 14 tỷ USD để hoàn thành nâng cấp đê chống lũ xung quanh New Orleans 11 tháng trước, Binh chủng Công binh, Lục quân Hoa Kì mới đây đã thừa nhận công trình sẽ mất đi hiêu quả bảo vệ trong vòng 4 năm vì nước biển dâng và sụt lún

 (https://www.scientificamerican.com/article/after-a-14-billion-upgrade-new-orleans-levees-are-sinking/?redirect=1).

  • Các giải pháp liên quan đến tái cấu trúc khu vực nuôi tôm dễ bị tổn thương bao gồm:
    • Về dài hạn, không cấp mới ​​giấy phép các nhà đầu tư nuôi tôm khi hết hạn và chuyển đổi thành rừng ngập mặn để bán tín dụng carbon để bù lại chi phí. Phục hồi rừng ngập mặn dọc theo bờ biển có thể làm tăng diện tích rừng ngập mặn thêm 50.000 ha.
    • Về ngắn hạn, đưa ra các ưu đãi thuế và đất đai cho các hộ gia đình và doanh nghiệp để chuyển đổi qua các công nghệ nuôi tôm hiệu quả hơn (ít diện tích đất trên một đơn vị sản lượng) và hệ thống nuôi tôm trong nhà, thích ứng với biến đổi khí hậu không đòi hỏi phải bơm nước ngầm. Đổi lại, các chủ sở hữu đất đồng ý chuyển đổi, sử dụng đất cho hệ thống tôm rừng hữu cơ.

Tận dụng nguồn vốn nhà nước và tư nhân (ví dụ, các nhà đầu tư xã hội) để thúc đẩy các hộ dân sử dụng công nghệ bể nuôi tuần hoàn quy mô nhỏ, có rủi ro thấp nhưng hiệu quả để đưa sản xuất tôm thâm canh ra khỏi ao đất, từ đó có thể chuyển đổi đất sang nuôi tôm rừng. 600m2 (0.06Ha) bể tuần hoàn có thể đạt sản lượng tương đương 1Ha tôm thâm canh với công nghệ hiện tại, phần đất còn lại có thể chuyển đổi thành tôm rừng giá trị cao.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan