Thứ 6, 07/10/2022 - 17:18
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh An Giang

Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang báo cáo tình hình thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh. Chi tiết nội dung báo cáo tải tại đây.

Trong bối cảnh Hội nhập kinh tế Quốc tế và Biến đổi khí hậu sản xuất nông nghiệp cũng còn nhiều khó khăn, thách thức, nhưng nông nghiệp vẫn đạt được mức tăng trưởng ổn định, từng bước phát triến theo chiều sâu, nhiều mô hình liên kết được nhân rộng, ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp được đấy mạnh, cơ cấu kinh tế nông nghiệp đã có sự chuyển dịch đáng kể, theo hướng tích cực, tạo tiền đề cơ cấu lại nền nông nghiệp phát triến bền vững. Nhìn chung, phát triến sản xuất nông nghiệp trong thời gian qua đã đạt được mục tiêu ổn định, giữ vai trò là bệ đỡ của ngành kinh tế, những mặt làm được nối bật trong 10 năm qua.

Tốc độ tăng trưởng

Tốc độ tăng trưởng bình quân qua các giai đoạn đều tăng, chỉ riêng năm 2017 là 1,02%, nguyên nhân chủ yếu do ảnh hưởng BĐKH, tình hình mưa bão kéo dài và kèm theo dông lốc, cộng với năm 2017 lũ về sớm và mực nước cao hơn cùng kỳ đã ảnh hưởng đến sản xuất, dịch bệnh bùng phát trong những tháng đầu năm. Năng suất lúa bình quân cả năm giữ ổn định từ 6,2 - 6,4 tấn/ha trong 10 năm, riêng năm 2014 đạt mức kỷ lục 6,43 tấn/ha, năm 2017 đạt 6,03 tấn/ha, tuy vậy, tỷ lệ sử dụng giống chất lượng cao từng bước cải thiện. Mặc dù vậy, giá trị sản xuất nông nghiệp/ha tăng từ 85,23 triệu đồng/ha 2010 lên 120 triệu đồng/ha năm 2015, năm 2017 là 158 triệu đồng/ha; 2018 là 170 triệu đồng/ha (NQ HĐND tỉnh đề ra là 166 triệu đồng/ha). Vì vậy, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng hằng năm, về chăn nuôi, bước đầu tổ chức thực hiện nuôi theo quy mô lớn, trang trại, ứng dụng các nghiên cứu và tiến bộ KHKT vào sản xuất nông nghiệp được tỉnh quan tâm đầu tư, nhất là các mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị từ khâu sản xuất giống đến khâu tố chức sản xuất, thu hoạch, bảo quản che biến nông thủy sản được nhân rộng. Công tác khuyến nông mang lại hiệu quả cao, nông dân ngày càng chú trọng sử dụng giống lúa chất lượmg cao đảm bảo tiêu chuấn xuất khấu. Thực hiện Nghị quyết 09/NQ-TU về Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đã tạo được nền tảng phát triển các vùng chuyên canh sản xuất nông nghiệp úng dụng công nghệ cao cho giai đoạn tới. Hệ thống giao thông thủy lợi nội đồng được quan tâm đầu tư và củng cố đã cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất và đi lại, vận chuyển hàng hóa ở vùng nông thôn. Việc đầu tư mới trạm bơm điện kết hợp nạo vét kênh mương và gia cố đê bao đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc gia tăng diện tích và sản lượng lúa góp phần không nhỏ vào tăng trưởng của ngành nông nghiệp.

- Các chuỗi giá trị lúa gạo, rau màu và thủy sản đã hình thành và phát triển cùng với các hình thức liên kết sản xuất trong chuỗi có sự tham gia của các ngân hàng góp phần từng bước ổn định trong lĩnh vực nuôi và chế biến thủy sản, mô hình “cánh đồng lớn” đang đi vào thực chất.

- Từ đó, đời sống của nông dân từng bước được cải thiện. Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh giảm, thu nhập bình quân đầu người tăng hàng năm.

Về tổ chức sản xuất

a) Mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất ngày càng được củng cố:

+ Quan hệ sản xuất giữa doanh nghiệp với Tổ chức đại diện nông dân dần được thiết lập theo chuỗi giá trị phù hợp với xu thế phát triến hiện nay, phát triển loại hình HTX kiểu mới có sự tham gia của doanh nghiệp, sự tham gia của các tổ chức tín dụng, sự tham gia của nhà nước thông qua các chính sách hỗ trợ. Những mặt làm được của quan hệ sản xuất này cho kết quả ban đầu là mỗi năm trung bình có 15 doanh nghiệp tham gia ký hợp đồng liên kết tiêu thụ nông sản với nông dân, có khoảng 10 hợp tác xã và 8 tổ hợp tác tham gia.

+ Về lực lượng sản xuất: Kinh tế hợp tác tiếp tục phát triển, nhận thức về bản chất, vị trí và vai trò của kinh tế hợp tác trong phát triển kinh tế - xã hội được nâng lên. Kinh tế tư nhân đã hình thành một số doanh nghiệp có quy mô lớn hướng vào những lĩnh vực mà tỉnh có tiềm năng, lợi thế, như: chế biến gạo, thủy sản, rau quả...; tính trung bình mức độ cơ giới hóa trong nông nghiệp đạt 98%, hệ thống đê bao, thủy lợi, trạm bơm điện cơ bản đáp ứng được cho sản xuất nông nghiệp, đội ngũ cán bộ kỹ thuật viên Khuyến nông và Bảo vệ thực vật phủ khắp các phường, xã, thị trấn.

b) Về phát triển hợp tác xã, tổ hợp tác:

- Về số lượng hợp tác xã: Tính đến 30/6/2018, toàn tỉnh có 125 HTX NN và 01 Liên hiệp HTX NN với 45 thành viên (đã ngưng hoạt động). Trong 125 HTX NN gồm 122 HTX lĩnh vực trồng trọt và 03 HTX liên quan lĩnh vực thủy sản. Trong 125 HTX hiện có 13 HTX ngưng hoạt động (trong đó có 01 HTX đề nghị củng cố lại).

- Về số lượng thành viên HTX: Tổng số thành viên tham gia HTX là 11.081 thành viên (cá nhân 3.825 thành viên; pháp nhân có 71 thành viên; hộ gia đình là 6.895 thành viên và khác là 290 thành viên).

- Về diện tích HTX phục vụ: Tổng diện tích HTX tham gia phục vụ khoảng 45.980 ha (trong thành viên 11.567 ha chiếm 25% diện tích phục vụ; ngoài thành viên là 34.413 ha chiếm 75% diện tích phục vụ).

- Về số lượng cán bộ quản lý điều hành HTX: Tổng số cán bộ tham gia quản lý điều hành HTX là 839 người, trong đó cán bộ có trình độ cao đẳng đại học là 113 người; Cán bộ có trình độ sơ, trung cấp là 129 người; còn lại là trình độ từ cấp III trở xuống.

- Về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX tính đến năm 2017:

+ Tổng nguồn vốn hoạt động của HTX là 279,467 tỷ đồng (77 HTX); trung bình nguồn vốn hoạt động của 01 HTX lĩnh vực trồng trọt trên 02 tỷ đồng, HTX thủy sản là 122,8 tỷ đồng.

+ Tổng doanh thu là 320,884 tỷ đồng (80 HTX); doanh thu trung bình của 01 HTX lĩnh vực trồng trọt là 2,332 tỷ đồng , HTX thủy sản là 136,682 tỷ đồng.

+ Tổng lợi nhuận là 23,749 tỷ đồng (76 HTX); lợi nhuận trung bình của 01 HTX lĩnh vực trồng trọt là 201 triệu đồng, HTX thủy sản là 8,67 tỷ đồng.

- Số lượng HTX thực hiện từ 04 dịch vụ trở lên có 18 HTX; thực hiện từ 02 – 03 dịch vụ có 33 HTX; Còn lại là 01dịch vụ, chủ yếu là bơm tiêu, bơm tưới. Theo kết quả thống kê có khoảng 27 HTX thực hiện dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp; 21 HTX thực hiện dịch vụ tiêu thụ nông sản; 24 HTX thực hiện dịch vụ TDNB; sản xuất lúa giống có 10 HTX. Dịch vụ mà các HTX thực hiện phần nào đáp ứng nhu cầu của thành viên và nông dân trong vùng.

- Triển khai Luật Hợp tác xã 2012 có hiệu lực, tỉnh đã chỉ đạo các ngành chuyên môn hỗ trợ thành lập mới 39 HTX nông nghiệp, trong đó có 05 HTX thành lập theo nhu cầu của doanh nghiệp (Công ty CP Tập đoàn Lộc Trời và Công ty Vinacam). Sau khi Luật Hợp tác xã 2012 ra đời số HTX tăng nhanh đáng kể, cụ thể năm 2013 thành lập 02 HTX; năm 2014 có 07 HTX; năm 2015 có 06 HTX; năm 2016 có 04 HTX; năm 2017 có 18 HTX và 06 tháng đầu năm 2018 có 02 HTX.

- Bên cạnh hỗ trợ thành lập mới, còn nâng chất phát triển các tổ hợp tác đủ điều kiện nâng lên thành hợp tác xã, cụ thể hỗ trợ Tổ hợp tác lúa giống Vĩnh Trạch phát triển thành Hợp tác xã lúa giống Tư Minh; Tổ hợp tác sản xuất rau an toàn Kiến An lên Hợp tác xã nông sản an toàn Kiến An – Chợ Mới; Tổ hợp tác sản xuất rau an toàn Mỹ Hòa Hưng nâng lên thành HTX nông nghiệp Mỹ Hòa Hưng.

- Ngoài ra, nhằm giúp cho các HTX ngày càng phát triển mạnh, hàng năm đã tiến hành nhiều đợt thanh tra, kiểm tra tình hình tổ chức và hoạt động của các HTX nhằm chấn chỉnh kịp thời những sai phạm thiếu sót cũng như giúp các HTX tuân thủ đúng theo Luật và các quy định hiện hành.  


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan