Thứ 6, 07/10/2022 - 16:18
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tình hình thực hiện Kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp đến năm 2020 tỉnh Kiên Giang

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Kiên Giang báo cáo tình hình thực hiện Kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp đến năm 2020 và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 tỉnh Kiên Giang. Chi tiết báo cáo tải tại đây.

Kết quả cơ cấu lại ngành nông nghiệp

1. Xây dựng các chương trình, đề án, dự án, quy hoạch

Triển khai Chương trình hành động của Tỉnh ủy Kiên Giang thực hiện Nghị quyết Đại hội X Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015 – 2020, UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoàn thành các chương trình, quy hoạch, đề án, dự án như sau:

- Dự án rà soát, điều chỉnh quy hoạch nông nghiệp-nông thôn gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Kiên Giang đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.

- Đề án phát triển giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.

- Chương trình phát triển rừng sản xuất làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ.

- Chương trình phát triển nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp vùng Tứ giác Long Xuyên và vùng U Minh Thượng.

- Kết luận của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 05/NQ/TU ngày 27/02/2013 của Tỉnh Ủy Kiên Giang về việc xây dựng nông thôn mới đến năm 2020.

- Dự án xây dựng Trung tâm nghề cá của tỉnh Kiên Giang gắn với ngư trường biển Tây Nam.

- Dự án rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp tỉnh Kiên Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.

- Quy hoạch nông nghiệp huyện Phú Quốc đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.

Đến nay các chương trình, đề án, dự án, quy hoạch đã triển khai thực hiện, góp phần đẩy nhanh tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Kiên Giang theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

Ngoài ra, ngành nông nghiệp đang tiếp tục xây dựng các đề án, dự án như:

- Đề án quản lý nghề lưới kéo trên địa bàn tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2016-2020.

- Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững, hiệu quả;

- Dự án “Khu phức hợp ứng dụng công nghệ cao phát triển chuỗi tôm hiệu quả và bền vững tại tỉnh Kiên Giang"

- Dự án “Điều tra các nghề khai thác vùng biển ven bờ và vùng lộng biển Kiên Giang; đề xuất sắp xếp lại cơ cấu nghề khai thác vùng biển ven bờ và vùng lộng biển Kiên Giang”.

- Dự án đầu tư phát triển giống gia súc, gia cầm tỉnh Kiên Giang giai đoan 2018-2020.

2. Thực hiện các mục tiêu Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới đến năm 2020

Đối chiếu với các mục tiêu đề ra theo Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Kiên Giang theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững giai đoạn 2015 – 2020, kết quả đạt được như sau:

- Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông – lâm – thủy sản giai đoạn 2015 – 2018 đạt 3,38% (kế hoạch năm 2020 là 4 – 5%). Trong nội bộ ngành (giai đoạn 2015-2018) trồng trọt âm 1,58%, chăn nuôi tăng 2,01%, dịch vụ nông nghiệp tăng 2,56%; lâm nghiệp ổn định; thủy sản tăng 8,5% (khai thác tăng 7,13%, nuôi trồng tăng 10,17%).

- Tỷ trọng GRDP của ngành chiếm 34,53% toàn tỉnh, giảm 7,69% so với năm 2015 (năm 2015 là 42,22%) và giảm 0,47 – 1,47% so với kế hoạch đến năm 2020 (năm 2020 là 35 – 36%). Cơ cấu tỷ trọng trong nội bộ ngành (năm 2018 so với năm 2015), lĩnh vực nông nghiệp âm 0,83%, thủy sản tăng 8,24%, lâm nghiệp tăng 0,2%.

- Giá trị sản xuất trên 01 ha đất sản xuất nông nghiệp: Năm 2018 giá trị sản phẩm thu được trên 01 ha đất trồng trọt đạt 76,92 triệu đồng/ha/năm (năm 2015 là 73,43 triệu đồng/ha/năm, kế hoạch năm 2020 là 100 triệu đồng/ha/năm), giá trị sản phẩm thu được trên 01 ha đất mặt nước nuôi trồng thủy sản đạt 115,56 triệu đồng/ha/năm (năm 2015 là 92,28 triệu đồng/ha/năm, kế hoạch năm 2020 là 130 triệu đồng/ha/năm).

- Đến nay, toàn tỉnh bình quân đạt 16,5 tiêu chí/xã (tăng 11 tiêu chí/xã so với năm 2011), có 01 huyện đạt chuẩn huyện nông thôn mới, có 58 xã đạt 19 tiêu chí (kế hoạch đến năm 2020 có 59/117 xã). Chỉ còn 01 xã đạt 9 tiêu chí và các xã còn lại đạt từ 10 tiêu chí trở lên.

- Tỷ lệ che phủ rừng đạt 10,96% (kế hoạch đến năm 2020 đạt 12%).

3. Kết quả cụ thể trên các lĩnh vực

 Trong nội bộ ngành nông nghiệp đã có sự chuyển dịch từ trồng lúa một vụ năng suất thấp sang nuôi trồng thủy sản, phát triển lúa + tôm nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập cho người dân.

a) Lĩnh vực trồng trọt

Trong chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trồng lúa đã chuyển đổi từ cơ cấu 02 vụ lúa Đông Xuân – Hè Thu sang cơ cấu 03 vụ lúa: Đông Xuân – Hè Thu – Thu Đông ở những diện tích có đê bao kiểm soát lũ đảm bảo ở các huyện thuộc vùng TSH (Giồng Riềng, Tân Hiệp) và ở vùng TGLX (Hòn Đất). Khu vực ven biển vùng UMT và TGLX chuyển đổi sang phát triển mô hình tôm - lúa cho hiệu quả kinh tế cao. Ngoài ra, chuyển đổi từ đất 02 vụ lúa sang phát triển mô hình lúa - màu ở Giang Thành, Hòn Đất thuộc vùng TGLX, ở Vĩnh Thuận thuộc vùng UMT, ở Giồng Riềng thuộc vùng TSH nhưng do hạn chế về thị trường tiêu thụ sản phẩm rau màu nên quy mô không lớn.

- Sản xuất lúa

Năm 2018, tổng diện tích gieo trồng và thu hoạch 727.397 ha, bằng 94,42% so với năm 2015 (năm 2015 là 769.464 ha), đạt 98,56% so kế hoạch năm 2020 (năm 2020 kế hoạch 738.000 ha). Năng suất thu hoạch bình quân đạt 5,86 tấn/ha, giảm 0,17 tấn/ha so với năm 2015 (năm 2015 là 6,034 tấn/ha), đạt 96,10% so kế hoạch năm 2020 (năm 2020 kế hoạch 6,098 tấn/ha). Sản lượng lúa cả năm 2018 đạt 4.260.185 tấn, bằng 89,73% so với năm 2015 (năm 2015 là 4.642.896 tấn), đạt 94,67% so kế hoạch với năm 2020 (năm 2020 kế hoạch 4,5 triệu tấn).

Chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ đất trồng lúa sang cây trồng khác và kết hợp nuôi thủy sản được 32.864 ha. Trong đó: đất 3 vụ lúa chuyển sang 2 vụ lúa 10.451 ha, 2 lúa – 1 màu 537 ha, sang 2 lúa – kết hợp nuôi cá mùa lũ 68 ha; đất 2 vụ lúa chuyển sang tôm – lúa 21.688 ha (trong đó: 5.357 ha chuyển năm 2018, còn lại đã chuyển từ năm 2016 đến nay); đất 1 vụ lúa chuyển sang cây ăn trái 52 ha (huyện Giang Thành) và 68 ha đất lúa chuyển sang chuyên tôm quảng canh (Gò Quao).

Nhìn chung, trong 02 năm đầu thực hiện Đề án cơ cấu lại ngành nông nghiệp, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu: nắng hạn kéo dài, nước mặn xâm nhập sâu vào nội địa, dịch bệnh trên cây trồng vật nuôi đã gây thiệt hại nặng nề đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân. Để bù đắp lại sản lượng lúa bị hao hụt so kế hoạch, UBND tỉnh đã chỉ đạo đẩy nhanh thực hiện các giải pháp như: Ứng dụng sản xuất các giống lúa có năng suất và chất lượng cao phù hợp với biến đổi khí hậu và điều kiện tự nhiên của từng tiểu vùng; xây dựng cánh đồng lớn gắn với bao tiêu sản phẩm để nâng cao giá trị lúa hàng hóa; đẩy mạnh phát triển nuôi trồng thủy sản, nhất là nuôi thâm canh và bán thâm canh…Do giá trị ngành trồng trọt chiếm tỷ trọng lớn nên không thể bù đắp được sản lượng lúa bị thiệt hại. Tuy nhiên, những giải pháp trên sẽ tạo tiền đề cho ngành nông nghiệp phát triển ổn định trong những năm tới.

- Sản xuất rau màu và cây ăn quả

Đối với các cây trồng khác, đã quy hoạch phát triển vùng chuyên canh rau an toàn tập trung quanh các đô thị, khu du lịch như Rạch Giá, Hà Tiên, Phú Quốc; cây tiêu ổn định và mở rộng diện tích ở địa bàn Phú Quốc, Gò Quao, Giồng Riềng và UMT, kết hợp với phát triển mạng lưới du lịch để tiêu thụ nội địa; cây mía sản xuất tập trung ở huyện U Minh Thượng, khu vực ven sông Cái Lớn thuộc Vĩnh Thuận, Gò Quao; cây khóm ổn định địa bàn sản xuất ở huyện Châu Thành, Gò Quao, Vĩnh Thuận.

b) Phát triển ngành chăn nuôi

Phát triển đàn heo theo hướng kết hợp giữa ổn định tổng đàn với nâng cao trình độ chăn nuôi theo hướng tập trung; phát triển mạnh đàn vịt, gà theo hướng an toàn sinh học, quản lý chặt chẽ mô hình nuôi vịt chạy đồng. Đối với đàn bò đã tranh thủ các chương trình, dự án, nguồn vốn đầu tư hỗ trợ như: chương trình 135, Dự án Heifer, ... đồng thời tận dụng điều kiện, tập quán của mỗi địa phương đã phát triển mạnh đàn bò ở các huyện Phú Quốc, Giang Thành, Hòn Đất,... Chỉ đạo thực hiện Quyết định 50/2014/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ nâng cao chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2015 - 2020, khuyến khích và hỗ trợ những hộ chăn nuôi gia đình xây dựng hầm khí sinh học biogas, phát triển chăn nuôi trang trại, gia trại. Một số doanh nghiệp đã chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho các hộ nông dân có điều kiện để nuôi gia công gia cầm đạt hiệu quả cao.

Tổng đàn chăn nuôi năm 2018: Đàn trâu 5.013 con, bằng 84,18% so với năm 2015 (năm 2015 là 5.955 con); Đàn bò 13.336 con, bằng 116,42% so với năm 2015 (năm 2015 là 11.455 con); Đàn heo 340.303 con, bằng 100,16% so với năm 2015 (năm 2015 là 339.744 con); Đàn gia cầm 5.439.000 con, bằng 99,19% so với năm 2015 (năm 2015 là 5.483.370 con).

Đàn heo, đàn bò, đàn gà tăng trưởng khá. Số lượng đàn trâu và đàn vịt thấp hơn trước khi thực hiện tái cơ cấu do những bất lợi về điều kiện tự nhiên: đồng cỏ chăn thả bị thu hẹp, hạn hán, xâm nhập mặn đã ảnh hưởng đến quy mô đàn.

Thực hiện cơ cấu chăn nuôi hàng hóa theo hình thức trang trại, toàn tỉnh có 87 trang trại, còn lại là nuôi theo hộ gia đình chăn nuôi heo, bò, gia cầm. Đến nay, có 16 cơ sở giết mổ gia súc tập trung thuộc thị xã, thị trấn, thành phố và 29 cơ sở giết mổ gia súc tập trung thuộc các xã, 48 điểm giết mổ kiểm tra đóng dấu kiểm soát giết mổ tại chợ thuộc vùng nông thôn, 06 cơ sở giết mổ gia cầm tập trung thuộc thị xã, thị trấn, thành phố được bố trí riêng biệt trong cơ sở giết mổ gia súc. Thông qua hệ thống đã kiểm soát, giết mổ trên 90% lượng sản phẩm động vật phục vụ nhu cầu tiêu thụ hàng ngày của tỉnh, so với trước năm 2015 chỉ kiểm soát được 70%.

c) Phát triển ngành thủy sản

Tổ chức lại khai thác hải sản theo hướng giảm dần tàu thuyền có công suất nhỏ khai thác ven bờ, phát triển tàu có công suất lớn đánh bắt xa bờ, góp phần bảo vệ an ninh chủ quyền vùng biển quốc gia.

Phát triển nhanh hình thức nuôi tôm bán thâm canh, thâm canh, công nghiệp, nuôi cá lồng bè. Tăng diện tích nuôi tôm công nghiệp – bán công nghiệp vùng Tứ giác Long Xuyên và tăng năng suất tôm – lúa vùng U Minh Thượng. Đẩy mạnh đầu tư phát triển cơ sở sản xuất tôm giống phục vụ sản xuất, đến nay sản lượng tôm giống đáp ứng khoảng 30% nhu cầu con giống nuôi. Từng bước áp dụng công nghệ trong nuôi tôm để chuyển nuôi tôm từ phương thức quảng canh, quảng canh cải tiến sang nuôi tôm công nghiệp – bán công nghiệp ở những nơi có điều kiện; ứng dụng các quy trình thực hành sản xuất tốt theo tiêu chuẩn quốc tế và quốc gia trong nuôi tôm như GAP, GlobalGAP…

Tổng số phương tiện khai thác thủy sản năm 2018 có 10.625 tàu cá, tăng  302 tàu so với năm 2015 (năm 2015 là 10.323 chiếc); bình quân mã lực 270 CV/chiếc, tăng 100 CV/chiếc so với năm 2015 (năm 2015 bình quân mã lực 170 CV/chiếc). Tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản 815.423 tấn, tăng 137.823 tấn so với năm 2015 (năm 2015 là 677.300 tấn), đạt 108% so kế hoạch năm 2020 (năm 2020 kế hoạch 755.505 tấn).

Sản lượng khai thác 589.535 tấn, tăng 95.715 tấn so với năm 2015 (năm 2015 là 493.820 tấn) và đạt 120,31% so với năm 2020 (năm 2020 kế hoạch 490.000 tấn).

Tổng diện tích mặt nước thả nuôi 245.814 ha, bằng 180,44% so với năm 2015 (năm 2015 là 136.230 ha), đạt 116,26% so với kế hoạch năm 2020 (năm 2020 kế hoạch 211.430 ha); Sản lượng đạt 225.888 tấn, bằng 123,11% so với năm 2015 (năm 2015 là 183.480 tấn), đạt 85,05% so với kế hoạch năm 2020 (năm 2020 kế hoạch 265.505 tấn). Sản lượng tôm nuôi đạt 73.390 tấn, bằng 514,11% so với năm 2015 (năm 2015 là 14.275 tấn), đạt 81,49% so kế hoạch năm 2020 (năm 2020 kế hoạch 80.000 tấn).

Hầu hết các tàu cá của tỉnh đều có trang bị các thiết bị thông tin liên lạc thu phát thoại vô tuyến điện sóng. Các tàu từ 90 mã lực trở lên trang bị đầy đủ máy định vị vệ tinh, máy đo sâu dò cá, máy thông tin liên lạc vô tuyến điện tầm xa; Riêng các tàu từ 400 mã lực trở lên đa số đều trang bị thêm hệ thống nhận dạng tự động AIS. Những năm gần đây đã trang bị thêm tời thủy lực để kéo lưới, góp phần giảm đáng kể sức lao động trực tiếp trên tàu, đồng thời hầu hết tàu 400 mã lực trở lên đều nâng cấp, cải tiến vật liệu hầm bảo quản bằng xốp cách nhiệt và lót hầm bảo quản bằng inox hoặc tráng composite, bước đầu áp dụng, sử dụng một số công nghệ mới trong bảo quản sản phẩm trên tàu như: công nghệ lạnh thấm, đã giúp cải thiện đáng kể về chất lượng và giảm được tỷ lệ hao hụt sản phẩm sau thu hoạch, nên đã tăng thời gian bám biển cho các tàu, chất lượng sản phẩm cũng được cải thiện;

Các mô hình nuôi ngày càng phong phú, kể cả nuôi nước lợ và nuôi nước ngọt (tôm-lúa, tôm-lúa xen cua, chuyên nuôi tôm quảng canh, bán thâm canh, thâm canh, tôm-cá, lúa 2 vụ kết hợp nuôi cá, nuôi cá trong ao, trong mương vườn, trong vèo, trong rừng…). Đã có một số mô hình thủy sản trên biển, đây là lợi thế của biển Kiên Giang và có tiềm năng rất lớn khi tỉnh có đủ nguồn lực vươn ra nuôi trồng với quy mô lớn trên biển.

d) Phát triển lâm nghiệp

Điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng giai đoạn 2016 - 2020 theo hướng duy trì hợp lý diện tích rừng đặc dụng và phòng hộ, điều chỉnh một phần diện tích rừng sản xuất kém hiệu quả sang sản xuất nông nghiệp. Độ che phủ rừng ổn định giai đoạn 2015- 2017 là 10,96%, đạt 91,33% so với kế hoạch năm 2020.

Rừng tự nhiên được tổ chức quản lý bảo vệ chặt chẽ. Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng lén lút khai thác, xâm hại rừng nhất là rừng phòng hộ ven biển và rừng đồi núi ở huyện Phú Quốc.

Diện tích trồng rừng mới mỗi năm một tăng, trong đó đặc biệt quan tâm đến công tác trồng rừng phòng hộ ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu (năm 2015 là 378 ha, năm 2016 là 1.240 ha, năm 2017 là 400 ha, năm 2018 là 81 ha). Khoán bảo vệ rừng vẫn được duy trì hàng năm bình quân 4.000 ha/năm. Phong trào trồng rừng sản xuất và trồng cây phân tán từng bước được phục hồi nhằm cung cấp nguyên liệu cho nhà máy MDF Kiên Giang công suất 75.000 m3/năm đã đi vào hoạt động, bước đầu mang lại hiệu quả.

Đẩy mạnh các hoạt động xã hội hóa nghề rừng thông qua hình thức liên doanh liên kết, cho thuê môi trường rừng kết hợp du lịch sinh thái gắn với quản lý bảo vệ và phát triển rừng. Đến nay, toàn tỉnh có 26 dự án cho thuê môi trường rừng và liên doanh liên kết, tuy mới bắt đầu triển khai nhưng đã góp phần cùng với chủ rừng tăng cường công tác quản lý bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng.

Đã ứng dụng các công nghệ tiên tiến như thông tin viễn thám và kỹ thuật thông tin địa lý (GIS) đánh giá diễn thế rừng, đất đai; tài nguyên động, thực vật; theo dõi giám sát diễn biến tài nguyên rừng. Đồng thời, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật xây dựng mô hình quản lý và điều tiết nước hàng năm một cách hợp lý để tạo điều kiện thích hợp trong việc phục hồi và phát triển rừng tràm nguyên sinh Vườn quốc gia U Minh Thượng.

Triển khai Đề án nâng cao năng lực phòng cháy chữa cháy rừng tỉnh Kiên Giang, đã tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và mua sắm trang thiết bị phục vụ phòng cháy chữa cháy rừng. Qua đó mặc dù mùa khô các năm 2015-2017 nắng hạn gay gắt và kéo dài nhưng thiệt hại do cháy rừng không đáng kể.

Các hoạt động khác tái cơ cấu nông nghiệp

1. Cơ giới hóa nông nghiệp

Trong những năm qua, Kiên Giang chú trọng đến việc hỗ trợ nông dân đầu tư máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp. Đến nay, khâu làm đất cơ bản đã đạt được cơ giới hóa trên 98%, khâu bơm tưới đạt 100% nhưng tỷ lệ bơm điện còn thấp (khoảng 35%), khâu phun thuốc và vận chuyển cơ giới hóa 100%. Thực hiện chính sách giảm tổn thất trong nông nghiệp, đến nay toàn tỉnh có 1.674 máy gặt đập liên hợp (GĐLH) và 29 máy cắt lúa xếp dãy, cùng với các máy GĐLH của tỉnh lân cận, cơ bản đáp ứng nhu cầu cơ giới hóa thu hoạch lúa của tỉnh. Ngoài ra, hiện có 7.700 máy cày, 305 máy sạ hàng, 1.547 lò sấy lúa, 61.942 máy bơm nước phục vụ sản xuất nông nghiệp…

2. Phát triển công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản

Nâng cấp công nghệ, thiết bị các nhà máy chế biến xay xát gạo; đầu tư xây dựng nhà máy chế biến ván MDF công suất 75.000 m3/năm. Chế biến và xuất khẩu thủy sản được tập trung đầu tư theo hướng đa dạng hóa sản phẩm, đến nay toàn tỉnh có 14 nhà máy chế biến thủy sản được đầu tư mới có dây chuyền công nghệ theo hướng hiện đại, tiêu chuẩn kỹ thuật cao với tổng công suất 138.000 tấn/năm. Hình thành các cơ sở mới chế biến bột cá, hệ thống kho lạnh tại các cảng cá, cải tiến hầm bảo quản trên các tàu cá, sử dụng máy tách màu gạo Nhật bản; máy cân, đóng tự động trong khâu đóng gói sản phẩm, máy sấy chân không...góp phần giảm bớt công đoạn thủ công trong quy trình sản xuất, nâng cao năng lực chế biến.

3. Hoạt động kinh doanh xuất khẩu nông sản  

Doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu của tỉnh là 36 doanh nghiệp, 19 doanh nghiệp tham gia tiêu thụ, chế biến lúa gạo, trong đó có 6 doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo được Bộ Công thương cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu thời hạn 5 năm với tổng năng lực kho chứa khoảng 391.830 tấn (trong đó có 132.515 tấn kho chứa lúa, 259.315 tấn kho chứa gạo). Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệp xuất khẩu nông sản chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh (khoảng 60%).

Tuy nhiên, các mặt hàng xuất khẩu của tỉnh hiện nay chủ yếu là sản phẩm thô, sức cạnh tranh thấp và phải đối mặt với nhiều thách thức bởi các rào cản kỹ thuật từ thị trường nhập khẩu, cũng như sự cạnh tranh gay gắt từ sản phẩm cùng loại của các nước trong khu vực và thế giới như: Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan … cần phải nâng cao sức cạnh tranh các mặt hàng xuất khẩu của tỉnh trong thời gian tới.

4. Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, dịch vụ

- Về sắp xếp, đổi mới công ty nông, lâm nghiệp:

Thực hiện Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị, tỉnh đã hoàn thành Phương án sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp, trình Bộ Nông nghiệp-PTNT và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 741/QĐ-UBND ngày 15/4/2015 phê duyệt Đề án chuyển đổi Công ty TNHH MTV Nông Lâm nghiệp Kiên Giang thành Công ty TNHH 2 thành viên Nông Lâm nghiệp Kiên Giang. Hiện nay, công ty đã đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh ổn định theo Đề án được UBND tỉnh phê duyệt.

- Về phát triển hợp tác xã, trang trại:

Các mô hình tổ chức sản xuất tiếp tục được củng cố và kiện toàn. Đến nay, toàn tỉnh có 356 hợp tác xã, có 28.787 thành viên, diện tích 51.662 ha; 2.153 Tổ hợp tác, có 48.730 tổ viên, diện tích 74.309 ha; 1.044 trang trại (trong đó 907 trang trại trồng trọt, 86 trang trại nuôi trồng thủy sản, 48 trang trại chăn nuôi và 7 trang trại tổng hợp), đã cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại cho 65 trang trại đạt tiêu chí theo Thông tư 27/2011/TT-BNNPTNT, ngày 13/4/2011 của Bộ Nông nghiệp-PTNT. Thu nhập bình quân một trang trại đạt 1.414,975 triệu đồng/năm.

Để phát triển sản xuất - kinh doanh, nhiều hợp tác xã, trang trại đã tăng cường đầu tư, đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả hoạt động. Từng bước hình thành liên kết sản xuất giữa các doanh nghiệp với hộ nông dân, Tổ hợp tác, Hợp tác xã theo chuỗi giá trị, như: sản xuất lúa theo cánh đồng lớn, một số khâu trong nuôi tôm, sò huyết, cá lồng bè...

- Liên kết sản xuất, xây dựng cánh đồng lớn:

Thực hiện cánh đồng lớn gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm từ 12.860 ha vào năm 2015 tăng lên gần 75.000 ha năm 2018. Có 21 doanh nghiệp, hộ kinh doanh liên kết sản xuất kinh doanh, hỗ trợ giúp cho nông dân ổn định đầu vào sản xuất và đầu ra sản phẩm. 100% diện tích tham gia cánh đồng lớn áp dụng 1 phải – 5 giảm, sử dụng giống đạt phẩm cấp, giảm lượng giống gieo sạ theo tập quán từ 180-250 kg/ha, áp dụng sạ thưa xuống còn 80 – 120 kg/ha. Tổng lượng giống sản xuất theo cánh đồng lớn giảm khoảng trên 5.600 tấn/năm, tổng chi phí giống giảm khoảng trên 67 tỷ đồng/năm. Nông dân sản xuất lúa được ký kết tiêu thụ đảm bảo lợi nhuận 40%.

Đã nghiên cứu thành công việc chọn, tạo, nhân giống lúa bằng phương pháp hiện đại trong công nghệ sinh học…có thời gian sinh trưởng ngắn, thích nghi với điều kiện biến đổi khí hậu, có khả năng chống chịu mặn, chống chịu tốt với dịch bệnh, cho năng suất cao, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu để bổ sung vào cơ cấu giống lúa của tỉnh như: GKG1, GKG9. Nông dân ứng dụng sản xuất các giống lúa năng suất cao, chất lượng gạo tốt ngày càng tăng, tỷ trọng lúa chất lượng cao toàn tỉnh tăng dần từ 70% năm 2015 lên 71% năm 2016 và lên 75,13% năm 2018, các giống chủ lực như: OM 5451, OM 4900, Jasmin 85 ,…

- Thu hút đầu tư tư nhân, phát triển doanh nghiệp:

Trong 03 năm thực hiện tái cơ cấu đã có 290 doanh nghiệp được cấp đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp với tổng vốn đăng ký là 2.490 tỷ đồng. Đặc biệt đã thu hút được một số doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất nông nghiệp hàng hóa, ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao như: Công ty cổ phần Trung Sơn (nuôi trồng và chế biến thủy sản), Công ty cổ phần nông nghiệp công nghệ cao Trung An (liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa gạo), Công ty cổ phần nông trại sinh thái (liên kết sản xuất và tiêu thụ rau sạch)…

5. Xúc tiến thương mại mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản, xây dựng thương hiệu, quản lý chất lượng sản phẩm

Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong tỉnh giới thiệu, quảng bá và tiêu thụ nông sản, gặp gỡ tiếp xúc với khách hàng, các nhà phân phối; đồng thời kêu gọi đầu tư và quảng bá tại các hội chợ thương mại, hội chợ quốc tế tổ chức tại Việt Nam, được 22 sự kiện trong nước với trên 40 doanh nghiệp, 11 hợp tác xã, 20 cơ sở sản xuất kinh doanh như: Hội chợ quốc tế nông nghiệp - nông sản và thực phẩm Việt Nam, Hội chợ đặc sản vùng miền tại Hà Nội; Festival quốc tế nông nghiệp vùng ĐBSCL; Hội chợ nông sản hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã và doanh nghiệp.

UBND tỉnh đã tổ chức nhiều đợt khảo sát, học tập mô hình sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả kinh tế cao tại các tỉnh bạn; nhiều cuộc hội nghị, hội thảo giao lưu, kết nối tiêu thụ sản phẩm giữa các đơn vị sản xuất kinh doanh và hợp tác xã, siêu thị, doanh nghiệp như: Hội thảo khoa học "Phát triển ứng dụng công nghệ cao trong nuôi trồng thủy sản tỉnh Kiên Giang", Hội thảo khoa học "Phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và nông nghiệp hữu cơ tỉnh Kiên Giang"...

Trung tâm xúc tiến thương mại tỉnh thường xuyên đăng tải các thông tin các chương trình hoạt động, các báo cáo về nghiên cứu thị trường, giới thiệu các chương trình sự kiện của các tỉnh thành; đồng thời tăng cường quảng bá, xúc tiến thông qua các hình thức như giới thiệu tiềm năng và cơ hội đầu tư của địa phương trên các website, bản tin xúc tiến của Trung tâm, quảng bá thương hiệu doanh nghiệp, hợp tác xã, làng nghề.

Công tác quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm đã được các ngành chức năng tập trung triển khai thực hiện. Tổ chức kiểm tra xếp loại cho 424 cơ sở sản xuất kinh doanh nông thủy sản trên địa bàn tỉnh. Kết quả có 382 cơ sở được cấp chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm (ATTP). Tiến hành thu mẫu 71 đợt gồm 142 mẫu nước biển, 10 mẫu sò lông, 71 mẫu nghêu lụa, 284 mẫu thủy sản nuôi (tôm sú, tôm chân trắng) để phân tích các chỉ tiêu đánh giá về ATTP. Qua đó, đã cấp 16.472 giấy chứng nhận xuất xứ nhuyễn thể hai mảnh vỏ cho 125 cơ sở. Triển khai thực hiện quản lý ATTP cho 7 sản phẩm trên địa bàn tỉnh gồm: Chuỗi sản phẩm cá ngừ, cá mòi, nước mắm, dưa lưới, cà chua, hạt tiêu đen và khóm sấy dẻo. Tuy nhiên, việc kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm chưa được chặt chẽ: Tình trạng vi phạm về chất lượng vật tư nông nghiệp, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật; hóa chất, kháng sinh cấm trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản vẫn còn diễn biến phức tạp.

6. Khoa học công nghệ và khuyến nông

Trên cơ sở bám sát Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp và Đề án đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ vào phát triển sản xuất nông nghiệp tỉnh Kiên Giang đến năm 2020, đã tập trung chuyển giao khoa học – kỹ thuật áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, thúc đẩy sản xuất hàng hóa lớn, phát triển các sản phẩm chủ lực của tỉnh.

Đến nay, toàn tỉnh đã có 21 sản phẩm Nhãn hiệu tập thể chủ yếu có nguồn gốc từ nông nghiệp (so với năm 2015 tăng 8 nhãn hiệu). những sản phẩm này đã và đang tham gia vào thị trường và được đánh giá cao như: Khóm Tắc Cậu, Khô cá Sặc Rằn U Minh Thượng, Sò huyết An Biên-An Minh, Hồ Tiêu Hà Tiên, Gạo một bụi trắng U Minh Thượng…Riêng Chỉ dẫn địa lý Phú Quốc cho sản phẩm truyền thống Nước mắm Phú Quốc tiếp tục được Cộng đồng Châu Âu chấp nhận. Ngoài ra, toàn tỉnh có nhiều đối tượng nông thủy sản đã được cấp giấy chứng nhận VietGAP, 01 mô hình sản xuất lúa hữu cơ đạt chứng nhận quốc tế USDA tại hợp tác xã Thạnh An, xã Đông Thạnh, huyện An Minh.

Đã đào tạo, tập huấn hướng dẫn kỹ thuật nông nghiệp, thủy sản được 872 lớp cho 21.591 lượt nông dân; Tổ chức 392 cuộc hội thảo mô hình có 11.426 lượt người dự; có 10.750 ha ứng dụng mô hình trình diễn sản xuất lúa theo cánh đồng lớn, 1 phải 5 giảm, tôm – lúa (hữu cơ)…, 12 điểm trồng rau an toàn - rau thủy canh, 33 điểm mô hình cây công nghiệp, 173,5 ha vườn cây ăn trái, 7 điểm trồng rau, tiêu có ứng dụng tưới nhỏ giọt, 281 điểm trình diễn chăn nuôi an toàn sinh học với 7 dạng mô hình, 125 điểm thủy sản với 20 dạng mô hình (nuôi tôm 2 giai đoạn, cá mú lồng bè,…).

Thông qua các chương trình, dự án của Trung ương và địa phương, qua đó chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật mới về cây trồng, vật nuôi, phương thức canh tác mới; góp phần nâng cao nhận thức của nông dân trong sản xuất; nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị thu nhập.

7. Thực hiện các cơ chế, chính sách

Tỉnh đã đẩy mạnh thu hút nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn qua việc triển khai các chủ trương, chính sách của Trung ương như: Nghị định 35/2015/NĐ-CP ngày 13/4/2015 của Chính phủ về quản lý, sử dụng đất trồng lúa; Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách giảm tổn thất trong nông nghiệp để nâng cao giá trị gia tăng, hiệu quả sản xuất lúa gạo; Nghị định 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014 của Chính phủ, về một số chính sách phát triển thủy sản, Quyết định 62/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, xây dựng cánh đồng lớn...

Cụ thể hóa các cơ chế, chính sách của Trung ương, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 08/2018/QĐ-UBND ngày 23/5/2018 ban hành Quy định về thực hiện chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ giai đoạng 2018 – 2020 trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. Ngành nông nghiệp đang xây dựng, trình UBND tỉnh ban hành các chính sách: Chính sách khuyến khích phát triển hợp tác xã; Chính sách khuyến khích đầu tư phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; Chính sách hỗ trợ áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan