Chủ nhật, 14/08/2022 - 20:36
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Định hướng nghiên cứu và chuyển giao ứng dụng công nghệ nông nghiệp cho vùng ĐBSCL nhằm thích ứng BĐKH

Đồng bằng sông Cửu Long là một ví dụ điển hình cho thích ứng biến đổi khí hậu và phát triển sản xuất nông nghiệp. Đây là vùng kinh tế trọng điểm, là trung tâm lớn về sản xuất lúa gạo, nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản, đóng góp lớn vào xuất khẩu nông thủy sản của cả nước. Trong những năm qua, nhiều tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp đã được chuyển giao tới bà con nông dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long thông qua các gói kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, cải thiện đời sống nông dân, nông thôn.

Thực hiện Kế hoạch hành động triển khai Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu long thích ứng với BĐKH, các chương trình nghiên cứu, lựa chọn, tạo giống cây trồng, vật nuôi thích ứng với biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long do Bộ triển khai đã có các kết quả đáng khích lệ.

I. Một số kết quả của các nhiệm vụ nghiên cứu ứng phó với biến đổi khí hậu

1.1 Chương trình nghiên cứu chọn tạo giống lúa

Theo số liệu thống kê năm 2017 năm 2018 tổng diện tích trồng lúa của đồng bằng sông Cửu Long khoảng 4.847 nghìn ha, trong 10 giống được gieo trồng phổ biến nhất thì các giống do Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long chọn tạo có 7 giống với tổng diện tích gieo trồng chiếm khoảng gần 50% diện tích gieo trồng của toàn vùng. Các giống lúa chọn tạo rất đa dạng phù hợp với từng vùng sinh thái và chia thành các nhóm phổ biến sau:

a) Cơ cấu nhóm giống lúa chính: Nhóm giống lúa chủ lực: OM5451, OM6976, OM4900, OM7347, OM4218, IR50404...; nhóm giống lúa nếp và thơm đặc sản: Jasmine 85, VD20, ST5, RVT, Nàng Hoa 9, nếp IR4625, nếp Bè...

b) Một số giống lúa chịu mặn: Đa số các giống cải tiến ngắn ngày OM6976, OM5451, OM9921, OM5621, OM6677, ST5... chỉ chịu được mặn ở mức độ trung bình – khá (từ 2-3‰); khi độ mặn từ 4‰ trở nên năng suất giảm, không đạt hiệu quả kinh tế. Các giống lúa chịu mặn ở mức độ khá hơn (khoảng 4‰) là Một bụi đỏ, OM2517, OM9577, OM5464...

c) Giống lúa chịu hạn:  có khả năng chịu điều kiện khô hạn từ cấp 1- cấp 3 (ở giai đoạn mạ và giai đoạn trổ), năng suất cao, phẩm chất gạo tốt (đạt tiêu chuẩn xuất khẩu) và còn có khả năng chịu phèn mặn tốt. Điển hình là các giống lúa: OM7347, OM5464, OM6162, OM7398, OM7364, OM8928 và OM6677

d) Giống lúa giàu vi chất dinh dưỡng: có hàm lượng sắt trong hạt gạo cao góp phần cải thiện dinh dưỡng, đặc biệt cho nhóm người nghèo dùng gạo là nguồn thực phẩm chính. Điển hình là các giống lúa: OM6976, OM5451, OM5472, OM3995, OM6561. Các giống lúa này đều có hàm lượng sắt trong gạo cao tương đương như giống lúa giàu sắt quốc tế IR68144 (hàm lượng sắt trong hạt gạo trắng 6,99 - 7,01 mg/kg, trong gạo lức 15,55 - 15,60 mg/kg), đạt năng suất cao và phẩm chất gạo tốt.

Cùng với việc nghiên cứu về giống lúa trong thời gian qua nhiều kỹ thuật mới trong canh tác và bảo vệ thực vật đặc biệt là các kỹ thuật về bón phân cân đối, sử dụng bản so màu lá lúa[1], quản lý dịch hại tổng hợp, kỹ thuật “3 giảm, 3 tăng”, kỹ thuật “1 phải, 5 giảm”, sạ hàng [2]… đã được áp dụng ngày càng rộng rãi vào sản xuất.

1.2 Chương trình nghiên cứu chọn tạo cây ăn quả

- Đã tuyển chọn và giới thiệu được một số giống cây cây ăn quả chủ lực cho vùng  như sau:  4 giống măng cụt  BDMC2, BTMC3,  BTMC4, BTMC6; Sầu riêng cơm vàng sữa hạt lép S1BL; Cam mật không hạt; Giống bưởi Đường lá cam ít hạt Long Định 4; Giống cam sành không hạt Long Định 6;  Thanh long ruột đỏ Long Định 1; Giống thanh long có thịt quả màu tím hồng Long Định 5;  Dứa Cayenne Long Định 2 cùng với hàng trăm cây đầu dòng Chôm chôm Rông Riêng,  Sầu riêng cơm vàng sữa hạt lép - S1BL; Sầu riêng Ri-6 - S2VL; Sầu riêng - SĐN46 H; Mít - MĐN06H, MĐN09H, MBRVT32H Quýt Tangelo Orlando và Bưởi Đường lá cam để lầm nguyên liệu cung cấp mắt ghép cho sản xuất. Các gốc ghép chống chịu mặn, phèn, úng, hạn cũng được giới thiệu để phát triển cây ăn quả ở những vùng khó khăn như gốc ghép Bưởi bòng (Citrus sp), Bưởi đường hồng (Citrus grandis); Bưởi hồng đường (Citrus grandis); Sảnh (Citrus nobillis) chịu mặn, chịu ngập tốt, chịu phèn và hạn ở mức trung bình, gốc ghép Bưởi bòng (Citrus sp), Bưởi đỏ và bưởi lông cổ cò chịu bệnh thối rễ tốt vì vậy mở rộng vùng sản xuất sang các vùng nước lợ ven biển.

- Nhiều qui trình sản xuất cây sạch bệnh và canh tác theo hương an toàn thực phẩm đã được công nhận là tiến bộ kỹ thuật để có thể áp dụng vào sản xuất như: Quy trình sản xuất cây có múi sạch bệnh bằng vi ghép đỉnh sinh trưởng; Quy trình sản xuất chuối già cui sạch bệnh bằng kỹ thuật nuôi cấy mô; quy trình sản xuất cây ăn quả và rau theo tiêu chuẩn GlobalGAP đã được giói thiệu áp dụng vào sản xuất như thanh long, xoài cát Hòa Lộc, cây có múi, chôm chôm và khoai lang, quy trình sản xuất cây ăn quả và rau theo tiêu chuẩn VietGAP cũng đã được thực hiện như trên cây  thanh long, chôm chôm,  nhãn, dứa, sơ ri, bưởi Da xanh, cam sành,  xoài cát Hòa Lộc. Qui trình IPM phòng trừ bệnh Vàng lá Greening trên cây cam quýt, qui trình phòng trừ bệnh chổi rồng trên nhãn, phòng trừ kiến trên cây thanh long, bệnh xì mủ trên cây sầu riêng và cam quýt, bưởi.

1.3. Chương trình nghiên cứu, lựa chọn, tạo giống vật nuôi thích ứng với biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long

Ngành chăn nuôi ở vùng ĐBSCL trong những năm qua mặc dù đã được các cấp chính quyền quan tâm, nhưng nhìn chung số lượng gia súc, gia cầm có dấu hiệu giảm. Số lượng vật nuôi theo thống kê năm 2015 so với năm 2012 như sau: số lượng trâu giảm  16,75%, đàn heo giảm 3,59% đặc biệt là đàn gia cầm giảm 5%, chỉ có số lượng đàn bò tăng 9,62%. Điều này cho thấy có sự ảnh hưởng của BĐKH đến ngành chăn nuôi trong khu vực ĐBSCL. Để phát triển ngành chăn nuôi vùng ĐBSCL theo hướng bền vững, cần có giải pháp để ngành chăn nuôi thích ứng với tình hình BĐKH hiện nay như sau: Tùy theo điều kiện của từng địa phương (thị trường, trình độ kĩ thuật, điều kiện tự nhiên ....): xây dựng, phát triển cơ cấu giống vật nuôi phù hợp. Ưu tiên chọn giống vật nuôi không cạnh tranh lương thực với con người, chỉ sử dụng nguồn phế phụ phẩm cho nông nghiệp, ít chịu ảnh hưởng bởi sự biến động của nhiệt độ, ít sử dụng nguồn nước, dể quản lí dịch bệnh.

Giống vật nuôi: đối với những trang trại chăn nuôi lớn theo hướng sản xuất hàng hóa, ưu tiên chọn những con giống có khả năng mang lại giá trị gia tăng cao. Đối với chăn nuôi nông hộ ưu tiên chọn giống bản địa, giống lai đã thích nghi với điều kiện tại địa phương.

Hiện nay, giống vịt chịu mặn đang được nghiên cứu và chuyển giao vào sản xuất. Năm 2017 2018 đã chuyển giao khoảng 01 triệu con giống vịt chịu mặn cho các tỉnh ven biển phục vụ chăn nuôi trong điều kiện bất lợi của biến đổi khí hậu. Ngoài giống vịt chịu mặn, giống dê và thỏ cũng là hai giống vật nuôi thích ứng tốt với điều kiện hạn mặn vùng ĐBSCL cũng đang được nghiên cứu và phát triển.

1.4. Chương trình nghiên cứu, lựa chọn, tạo giống thủy sản thích ứng với biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng Sông Cửu Long có diện tích nuôi trồng thủy sản lớn, chiếm 63%–73% tổng diện tích nuôi trồng của cả nước. Theo Quy hoạch phát triển NTTS khu vực ĐBSCL, định hướng tới năm 2020, tổng diện tích nuôi tôm sú 543.950 ha (chiếm 61,12%), tôm chân trắng 20.800 ha (chiếm 2,34%), nhuyễn thể 32.000 ha (chiếm 3,6%), cá tra 13.000 ha (chiếm 1,46%), rô phi 31.500 ha (chiếm 3,54%), tôm càng xanh 35.100 ha (chiếm 3,94%), và các nhóm thủy sản khác. Nhóm đối tượng thủy sản chủ lực gồm tôm sú, cá tra, tôm chân trắng, cá rô phi, tôm càng xanh và nghêu.

Nhu cầu giống thủy sản đến năm 2020 dự kiến cần 76,46 tỷ con, trong đó tôm sú 46,55 tỷ con, tôm chân trắng 17,66 tỷ con, nhuyễn thể 4.100 tấn con, cá tra 5,85  tỷ con, cá rô phi 1,18 tỷ con, tôm càng xanh 2,94 tỷ con.

Trong những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp tại ĐBSCL, đặc biệt là NTTS chịu tác động lớn của các hiện tượng thời tiết cực đoan, biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn. Cùng với đó là nhiều dịch bệnh xảy ra trên diện rộng, khó kiểm soát và ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất. Do vậy đã đặt ra những thách thức và yêu cầu từ sản xuất trong việc nghiên cứu, chọn tạo các giống thủy sản chất lượng cao, có khả năng kháng bệnh, chịu mặn, hoặc di các giống (rong biển) để phát triển nuôi trồng tại các khu vực chịu ảnh hưởng, … góp phần chủ động cung cấp nguồn giống chất lượng tốt cho người sản xuất, đồng thời thúc đẩy phát triển ổn định và giảm thiểu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới ngành thủy sản tại ĐBSCL.

Trên cơ sở đó, ứng dụng KHCN trong chọn tạo giống thủy sản thích ứng biến đổi khí hậu đã đạt được những kết quả cụ thể như sau:

- Nuôi trồng thủy sản nước ngọt:

+ Đã chọn tạo, công nhận giống cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus) chọn giống nâng cao tốc độ tăng trưởng thế hệ thứ 2 (PanGI2) và chuyển giao vào sản xuất giống cá tra bố mẹ, nâng cao tăng trưởng trên 20%, kháng bệnh; đã sản xuất cung cấp giống hậu bị cho các cơ sở sản xuất tại ĐBSCL, góp phần nâng cao chất lượng, bổ sung, thay thế đàn cá bố mẹ, chất lượng con giống, khả năng kháng bệnh, từng bước đáp ứng đủ giống chất lượng cho sản xuất...

+ Nghiên cứu được công nghệ sản xuất giống nhân tạo đối với cá Dứa (giống cá Dứa có thể nuôi trong ao đất hoặc lồng bè, độ mặn dao động 0-15‰), góp phần đa dạng hóa loài nuôi và khả năng thích nghi với môi trường mặn, lợ hoặc các khu vực xâm nhập mặn tại ĐBSCL.

+ Chọn lựa và được công nhận giống rô phi chọn giống mặn lợ thế hệ G5 (Oreochromis niloticus) có các tính trạng tăng trưởng nhanh, màu sắc đẹp, ít đốm đen, có tỷ lệ sống cao hơn và có khả năng chịu mặn tốt hơn rô phi thường đang được nuôi tại ĐBSCL.

+ Tạo được công nghệ điều khiển giới tính và công nghệ chọn giống tôm càng xanh đã giúp đàn tôm càng xanh nâng cao tốc độ tăng trưởng tăng > 20% so với đại trà. Công nghệ có chất lượng tương đương với sản phẩm KHCN một số quốc gia phát  triển đang ứng dụng. Tôm càng xanh chọn giống đã được đưa vào nuôi thử nghiệm ở 02 mô hình nuôi bán thâm canh trong ao và trong ruộng lúa ngập lũ. Kết quả cho thấy tôm có tốc độ tăng trưởng cao và có tỷ lệ tôm đạt kích cỡ loại 01 cao hơn sau thời gian nuôi tương đương với tôm càng xanh chưa qua chọn lọc.

- Nuôi trồng thủy sản nước lợ:

+ Nghiên cứu chọn được giống tôm thẻ chân trắng, tôm sú sạch bệnh, tăng trưởng nhanh, cho tốc độ tăng trưởng và khả năng chống chịu với các điều kiện cực đoan, sạch bệnh; công nhận được 03 giống, gồm: Tôm thẻ chân trắng thế hệ G1 (Penaeus vannamei/Litopenaeus vannamei), tôm thẻ chân trắng bố mẹ thế hệ G3 (Litopenaeus vannamei Boone, 1931), tôm sú (Penaeus monodon Fabricius, 1798) dòng chọn giống Moana của Viện Nghiên cứu NTTS I; đang tiếp tục nghiên cứu chọn tạo giống tôm thẻ chân trắng theo hướng tăng trưởng nhanh, thích ứng biến đổi khí hậu.

+ Đã đưa ra được quy trình kỹ thuật nuôi tôm sú, rửa mặn, trồng lúa và lịch mùa vụ cho mô hình canh tác tôm-lúa để đạt được tính bền vững thích ứng với sự thay đổi của khí hậu; đồng thời lựa chọn được các giống lúa thích hợp với mô hình canh tác luân canh tôm sú – lúa, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế vùng bán đảo Cà Mau; góp phần thúc đẩy sự mở rộng và phát triển bền vững hơn của mô hình nuôi tôm-lúa ở ĐBSCL.

+ Nghiên cứu được công nghệ nhân giống rong rụn (Kappaphycus alvarezii) bằng phương pháp nuôi cấy mô, trong đó: đã có được bộ giống thuần rong sụn có hàm lượng carrageenan và sức đông cao, 50.000 tản rong giống (3-5cm/tản) được các cơ sở sản xuất đánh giá cao trong quá trình ứng dụng; nghiên cứu trồng rong bản địa (rong câu cưới) và di giống một số loài rong biển (rau câu chỉ vàng, rong nho)  phù hợp với điều kiện tại các ao nuôi tôm nước lợ ở các khu vực bị hoặc có nguy cơ xâm nhập mặn cao tại ĐBSCL (nghiên cứu thí điểm tại các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Bến tre) thích ứng với biến đổi khí hậu. Kết quả cho thấy tôm nuôi trong các ao đầm cùng với rong câu phát triển tốt, rong câu thích nghi tốt với điều kiện môi trường ao nuôi tôm.

1.5. Các hoạt động khuyến nông, đẩy mạnh hỗ trợ nông dân tiếp thu và áp dụng khoa học công nghệ; thúc đẩy xã hội hóa các hoạt động khoa học công nghệ nông nghiệp; phân cấp hoạt động khuyến nông cho các tổ chức nông dân và doanh nghiệp

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng kinh tế trọng điểm, là trung tâm lớn về sản xuất lúa gạo, nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản, đóng góp lớn vào xuất khẩu nông thủy sản của cả nước. Trong những năm qua, nhiều tiến bộ kỹ thuật (TBKT) trong nông nghiệp đã được chuyển giao tới bà con nông dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long thông qua các gói kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, cải thiện đời sống nông dân, nông thôn.

Về trồng trọt - BVTV

- Vùng Đồng bằng sông Cửu Long được coi là vựa lúa lớn nhất cả nước, với mật độ canh tác 3 vụ/năm, trong đó hiệu quả nhất là 2 vụ Đông - xuân và Thu - đông. Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm tăng hiệu suất, giá trị và lợi nhuận cho nông dân, giúp người nông dân chuyển đổi giống cây trồng phù hợp để áp dụng vào sản xuất nông nghiệp. Trên cơ sở kết quả các mô hình và điều kiện cụ thể của địa phương để xác định các công thức luân canh giữa lúa và các cây trồng khác đảm bảo hiệu quả kinh tế cao nhất, đặc biệt, chỉ hướng dẫn nông dân chuyển đổi cây trồng khi nắm vững được thị trường tiêu thụ, cụ thể:

- Xây dựng được trên 9 nghìn ha mô hình cây trồng kết hợp với mô hình liên kết tiêu thụ sản phẩm, sản xuất hàng hóa và dịch vụ; Hiệu quả kinh tế các mô hình cơ bản được đánh giá tăng từ 10- 20% so với ngoài mô hình và nhiều mô hình có tính bền vững và có khả năng nhân rộng.

+ Về cây lúa đã hỗ trợ xây dựng hàng nghìn ha các mô hình trong đó: các mô hình thâm canh lúa và sản xuất lúa gạo chất lượng, áp dụng kỹ thuật 3 giảm 3 tăng, kỹ thuật SRI, cơ giới hóa đồng bộ sử dụng máy làm đất, máy cấy, gieo sạ các mô hình ở ĐBSCL đã thực hiện đạt hiệu quả kinh tế cao hơn 4,5 đến 5 triệu đồng/ha từ việc giảm chi phí giống khoảng 15%, giảm số lượng bón phân đạm khoảng 7%, thuốc BVTV khoảng 10% và đang thực hiện các mô hình gieo sạ mức 80 kg/ha và lúa cấy là 30- 50 kg/ha.

+ Cây công nghiệp, cây ăn quả và cây trồng lâu năm bao gồm các mô hình: trên ăn quả (cam, vải, nhãn, xoài) mô hình trồng mới cam và ghép cải tạo nhãn, mô hình canh tác bền vững theo tiêu chuẩn an toàn đạt tiêu chuẩn xuất khẩu tới các thị trường châu Âu và Mỹ đối với cây xoài, nhãn.

Về chăn nuôi - thú y

- Chuyển giao 2 mô hinh mô hình ủ chua thân bắp quy mô 120 tấn; Mô hình trồng cỏ thâm canh quy mô 30 ha và 2 mô hình rơm ủ u rê quy mô 120 tấn cho các tỉnh ngập mặn ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.

- Hơn 90.000 con vịt biển 15 - Đại Xuyên, vịt PT cho các tỉnh ven biển và các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, năng suất trứng bình quân đạt 275 quả/mái/năm đẻ, khối lượng trứng 60-65 gam; tỷ lệ phôi đạt 93%, tỷ lệ nở/phôi 85%, tiêu tốn thức ăn/10 trứng  2,2 kg.

- Các mô hình dự án triển khai có nhiều thuận lợi và khó khăn. Thuận lợi ở chỗ người nông dân đã tiếp cận được các TBKT về chăn nuôi, trồng cỏ thâm canh, ủ thức ăn thô xanh phục vụ cho gia súc. Khó khăn ở chỗ nắng nóng và ngập mặn nên việc triển khai mô hình  không thể làm đồng bộ được, đặc biệt là mô hình trồng cỏ thâm canh. Trong chăn nuôi, thức ăn là yếu tố quan trọng chiếm trên 60% trong cơ cấu giá thành sản phẩm. Tuy nhiên, tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), có khoảng 320 ngàn ha đất nhiễm mặn (năm bình thường), nhưng vào năm hạn hán có khoảng 744 ngàn ha đất nhiễm mặn (18,9% diện tích ĐBSCL). Như vậy diện tích đất trồng cây nông nghiệp giảm, sản lượng cây trồng giảm sẽ kéo theo thiếu nguồn thức cho gia súc, gia cầm. Đồng thời diện tích đồng cỏ cho chăn nuôi cũng bị giảm và một số giống cỏ cũng bị mất đi do không thích nghị với vùng đất nhiễm mặn. Nguồn thức ăn tại địa phương bị thiếu hụt sẽ gây nên hậu quả nghiêm trọng đó là: giá thức ăn tăng cao, mất ngoại tệ để nhập thức ăn chăn nuôi từ bên ngoài. Đồng thời thiếu thức ăn sẽ giảm khả năng sản xuất của vật nuôi và nguy cơ dịch bệnh xẩy ra rất lớn sẽ thiệt hại cho người chăn nuôi nói riêng và vùng ĐBSCL nói chung.

Về thủy sản

- Tổ chức tư vấn và đánh giá chứng nhận cho 20 mô hình/23 cơ sở nuôi tham gia với tổng diện tích được đánh giá chứng nhận VietGAP là 87,26 ha đạt được 436% so với mục tiêu yêu cầu. Năng suất tôm sú thu được đối với mô hình áp dụng theo VietGAP đạt 1,6 tấn/ha so với mô hình nuôi quảng canh cải tiến hoặc nuôi tôm sú ghép với đối tượng khác năng suất chỉ đạt 0,5-1,0 tấn/ha. Năng suất nuôi tôm thẻ chân trắng áp dụng theo VietGAP 10,7 tấn/ha.

+ Mô hình nuôi tôm càng xanh đạt 10,24 tấn/ha, cỡ tôm thu hoạch đạt 62 con/ha, tỷ lệ sống đạt 80%.  Chỉ tiêu đánh giá VietGAP đạt 93,24%, hiệu quả kinh tế tăng cao 20 - 30% và quản lý được môi trường nuôi, xử lý được ao thải và chất thải sau khi nuôi;

+ Xây dựng được 04 mô hình từ sinh sản nhân tạo đến ương ngao giống đạt cấp II. Số lượng ngao giống cấp I đạt 1.583,1 triệu con (cỡ trung bình 0,5 mm/con); ương lên ngao giống cấp II tỷ lệ sống đạt trên 51% tương đương đạt 810,1 triệu con ngao giống cấp II (cỡ 0,8-1,0 cm/con).

II. Hạn chế và thách thức

a) Hạn chế

- Ở ĐBSCL, lũ lụt và xâm nhập mặn hàng năm chưa có biện pháp hữu hiệu để kiểm soát đã gây nhiều trở ngại cho sản xuất nông nghiệp và an sinh trong vùng.

- Bộ giống cây trồng, vật nuôi chưa đáp ứng được sản xuất trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng diễn ra nhanh hơn dự báo (đến thời điểm hiện tại trong bộ giống lúa vùng chưa có giống nào có khả năng chịu mặn vượt được ngưỡng trên 5‰)

- Nhìn chung hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật thấp kém, nhất là giao thông, thủy lợi gây khó khăn cho việc hình thành vùng sản xuất tập trung quy mô lớn.. Chất lượng nguồn nhân lực và trình độ dân trí còn chưa cao so với các vùng khác. Trình độ về quản lý sản xuất kinh doanh của nông hộ còn thấp. Áp lực việc làm ở nông thôn cao.

b) Thách thức.

- Chuyển dịch cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp còn chậm, sản xuất kém ổn định, kém sức cạnh tranh, hiệu quả thấp.

- Chất lượng nông sản chưa cao, nhất là vấn đề an toàn thực phẩm, hàng hoá phần lớn chưa có thương hiệu, xuất xứ hàng hoá… là thách thức lớn trong quá trình hội nhập quốc tế.

- Giá trị hàng hóa nông sản thấp, đời sống nông dân chưa cao đang có xu thế người nông dân bỏ ruộng đất đi làm việc khác ở thành phố và khu công nghiệp. Lực lượng lao động ở nông thôn gia tăng ngày càng lớn, đòi hỏi phải giải quyết việc làm cho người lao động.

- Khai thác tài nguyên chưa hợp lý dẫn đến hiệu quả sử dụng chưa cao và môi trường đang bị suy thoái. Tại ĐBSCL, ô nhiễm môi trường, đặc biệt là môi trường nước dọc theo các sông, kênh rạch và rừng ngày càng suy kiệt do bị tàn phá và cháy đang là thách thức lớn.

III. Định hướng nghiên cứu và chuyển giao ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp

1. Lĩnh vực trồng trọt

a, Cây lúa

Để thích ứng với sự biến đổi khí hậu của vùng các nhiệm vụ cấp Bộ liên quan đến cây lúa sẽ chủ động thực hiện theo hướng:

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển các giống mới năng suất, chất lượng cao, chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất thuận phục vụ nội tiêu và xuất khẩu

+ Chọn tạo giống lúa chịu mặn: chọn tạo được giống lúa có khả năng chịu mặn ≥ 6‰.

+ Cải tiến tính chống chịu sâu, bệnh hại (rầy nâu, đạo ôn) của các giống lúa nhóm chủ lực Ví dụ như giống OM 4900 và OM4218...

- Thực hiện các nhiệm vụ thuộc đề án khung phát triển sản phẩm quốc gia “Sản phẩm lúa gạo Việt Nam chất lượng cao, năng suất cao" thuộc Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia với mục đến năm 2020 sẽ chọn tạo đưa vào sản xuất tại các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long những 4-5 giống lúa có chất lượng cao có giá trị xuất khẩu từ 600-800 USD/tấn, chống chịu được với sâu bệnh hại chính và điều kiện ngoại cảnh bất thuận.

- Xây dựng được quy trình canh tác lúa tiên tiến phù hợp tiêu chuẩn GAP, nâng cao giá trị gia tăng, giảm chi phí sản xuất, giảm phát thải khí nhà kính, đảm bảo an toàn thực phẩm.

b, Cây ăn quả

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển các giống mới năng suất, chất lượng cao, chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất thuận phục vụ nội tiêu và xuất khẩu.

- Xây dựng và hoàn thiện trình kỹ thuật sản xuất cây ăn quả theo hướng ứng dụng công nghệ cao, sản xuất theo hướng hữu cơ gắn với chuỗi giá trị; quy trình rải vụ cho các loại cây ăn quả chủ lực (thanh long, nhãn, chôm chôm, sầu riêng và xoài...).

- Nghiên cứu, nhập các quy trình công nghệ tiên tiến nhằm tạo ra các chế phẩm sinh học phục vụ canh tác cây ăn quả đảm bảo ATTP, có giá trị kinh tế cao.

- Sản xuất những tổ hợp gốc ghép (cam, bưởi, sầu riêng, chôm chôm...) có khả năng chống chịu mặn (ở nồng độ 6‰ - 8‰), chịu ngập và chống chịu bệnh thối rễ do nấm Phytophthora spp. và Fusarium spp.

- Bảo tồn, phục tráng, khai thác và phát triển các giống cây ăn quả bản địa, cây ăn quả đặc sản có lợi thế so sánh và giá trị kinh tế cao.

- Xây dựng chỉ dẫn địa lý cho một số sản phẩm cây ăn quả trong vùng.

 2. Lĩnh vực thuỷ sản

- Nghiên cứu làm chủ và phát triển công nghệ chọn tạo giống bố mẹ; kỹ thuật sản xuất giống tôm và cá tra sạch bệnh.

- Nghiên cứu và phát triển công nghệ nuôi tiên tiến, ưu tiên công nghệ cao trong nuôi trồng thủy sản phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội; bảo quản sản phẩm nuôi trồng sau thu hoạch; sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản; giảm thiểu việc sử dụng kháng sinh trong nuôi thủy sản, đảm bảo an toàn thực phẩm.

- Nghiên cứu dịch tễ học một số bệnh; xây dựng quy trình phòng trị bệnh trên một số đối tượng thủy sản đảm bảo an toàn thực phẩm.

- Nghiên cứu chế tạo vắc xin, thuốc thú y thủy sản; sản xuất chế phẩm sinh học thay thế kháng sinh; nghiên cứu sản xuất thức ăn thủy sản, thức ăn bổ sung trong nuôi trồng thủy sản; chế tạo KIT phát hiện tồn dư kháng sinh, hóa chất độc hại, vi sinh vật gây ô nhiễm thực phẩm.

- Nghiên cứu các giải pháp công nghệ nuôi ít sử dụng nước, xử lý môi trường trong nuôi thủy sản.

- Nghiên cứu làm chủ và phát triển công nghệ chọn tạo giống bố mẹ và kỹ thuật sản xuất giống tôm và cá tra sạch bệnh.

- Nghiên cứu và phát triển công nghệ nuôi tiên tiến, ưu tiên công nghệ cao trong nuôi trồng thủy sản phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội; bảo quản sản phẩm nuôi trồng sau thu hoạch; sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản; giảm thiểu việc sử dụng kháng sinh trong nuôi thủy sản, đảm bảo an toàn thực phẩm.

- Nghiên cứu dịch tễ học một số bệnh; xây dựng quy trình phòng trị bệnh trên một số đối tượng thủy sản đảm bảo an toàn thực phẩm.

- Nghiên cứu chế tạo vắc xin, thuốc thú y thủy sản; sản xuất chế phẩm sinh học thay thế kháng sinh; nghiên cứu sản xuất thức ăn thủy sản, thức ăn bổ sung trong nuôi trồng thủy sản; chế tạo KIT phát hiện tồn dư kháng sinh, hóa chất độc hại, vi sinh vật gây ô nhiễm thực phẩm.

- Nghiên cứu các giải pháp công nghệ nuôi ít sử dụng nước, xử lý môi trường trong nuôi thủy sản.

3. Về thủy lợi: Tiếp tục ứng dụng công nghệ về thủy lợi trong cải tạo, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật hỗ trợ hình thành vùng sản xuất tập trung quy mô lớn.

IV. Nhiệm vụ trọng tâm ưu tiên về khuyến nông

a) Khuyến nông Trồng trọt - Bảo vệ thực vật         

- Cây ăn quả: hỗ trợ chuyển giao giống mới, giống sạch bệnh, qui trình quản lý cây trồng tổng hợp, theo hướng GAP qui mô hàng hóa; xây dựng thương hiệu cho một số sản phẩm chủ lực.

- Cây lương thực: hỗ trợ chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giống mới, giống có phẩm cấp, liên kết sản xuất theo chuỗi qui mô hàng hóa, đảm bảo ATTP gắn với xây dựng thương hiệu.

- Đẩy mạnh xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, sản xuất nông nghiệp theo hướng hữu cơ, đảm bảo ATTP cho một số cây trồng có giá trị kinh tế cao trong vùng.

- Tiếp tục hỗ trợ xây dựng các mô hình chuyển đổi cơ cấu thời vụ, cơ cấu cây trồng trên đất sản xuất kém hiệu quả sang phát triển các cây trồng khác hiệu quả cao hơn phù hợp với vùng sinh thái, thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu.

b) Khuyến Ngư

- Nuôi trồng thủy sản: chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật và quản lý (theo hướng VietGAP, ASC, GlobalGAP, BAP,...) trong sản xuất giống, nuôi trồng thương phẩm (tôm nước lợ, cá tra).

- Ứng dụng công nghệ cao trong chế biến sản phẩm giá trị gia tăng từ phế phụ phẩm thủy sản.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan