Chủ nhật, 14/08/2022 - 19:40
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Định hướng và giải pháp phát triển thị trường cho các sản phẩm nông nghiệp chủ lực vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Thực hiện văn bản số 3084/BHH-KH ngày 06 tháng 5 năm 2019 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc xây dựng báo cáo tại Hội thảo “Tái cơ cấu nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu vùng Đồng bằng sông Cửu Long”, Cục Chế biến và Phát triển thị trường Nông sản báo cáo về định hướng và giải pháp phát triển thị trường cho các sản phẩm nông nghiệp chủ lực vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

I. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VÙNG ĐBSCL

Nông nghiệp vùng ĐBSCL đã duy trì tăng trưởng khá trong những năm qua. Giai đoạn 2010 – 2017, nông nghiệp ĐBSCL đóng góp trung bình 34,6% GDP nông nghiệp cả nước và 33,5% GDP chung của vùng. Tốc độ tăng trưởng bình quân GDP nông nghiệp ĐBSCL đạt 3,41%/năm, cao hơn mức tăng bình quân cả nước (2,84%/năm). Giá trị sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản của vùng chiếm 38,1% cả nước với tốc độ tăng bình quân 7,15%/năm trong giai đoạn 2012 – 2016, cao hơn mức bình quân của cả nước (5,32%/năm) và tăng ở tất cả 3 ngành thủy sản, nông nghiệp và lâm nghiệp.

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp đang chuyển dịch theo hướng tích cực, phát huy lợi thế, phù hợp nhu cầu thị trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Tỷ trọng giá trị sản xuất ngành trồng trọt giảm từ 52% năm 2010 xuống 48% năm 2016, ngành chăn nuôi tăng từ 9% lên 10% và ngành thủy sản tăng từ 10% lên 14% trong cùng giai đoạn.

Xuất khẩu NLTS của vùng tăng nhanh, tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy sản xuất hàng hóa. Thị trường tiêu thụ nông sản của ĐBSCL mở rộng nhanh chóng đến gần 200 quốc gia, cơ cấu sản phẩm xuất khẩu chuyển đổi hiệu quả hơn, gắn với nhu cầu thị trường và phù hợp với lợi thế của vùng. Năm 2017, tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản ĐBSCL đạt khoảng 8,5 tỷ USD chiếm 56,67% KNXK chung của vùng và chiếm khoảng 10% KNXK nông sản cả nước (trong đó gạo đạt 2,1 tỷ USD; cá tra 1,7 tỷ USD; tôm 2,5 tỷ USD; trái cây 1,7 tỷ USD).

II. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHO CÁC SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP CHỦ LỰC VÙNG ĐBSCL

1. Bối cảnh chung

Năm 2019, công tác phát triển thị trường nông sản trong nước và quốc tế đứng trước những thuận lợi và thách thức đan xen. Tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Các yếu tố bất ổn gây cản trở tăng trưởng kinh tế toàn cầu có thể kể đến là xung đột thương mại Mỹ - Trung, sự kiện nước Anh chính thức rời khỏi Liên minh EU, các nước EU còn gặp khó khăn về ngân sách, nợ công Trung Quốc đạt mức kỷ lục, Mỹ gia tăng trừng phạt Iran, sự bất ổn của các thị trường chứng khoán toàn cầu cùng với xu thế đầu tư tại các nước đang phát triển và mới nổi suy giảm. Tuy vậy, thách thức và thuận lợi cùng đan xen, bổ trợ. Hiệp định CPTPP chính thức có hiệu lực từ 14/01/2019. Xung đột thương mại Mỹ - Trung mở ra cơ hội cho nhiều mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu của Việt Nam như thủy sản, rau quả, đồ gỗ; cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra mạnh mẽ, tác động đồng bộ đến các khâu sản xuất và chế biến nông sản. Cùng với sự gia tăng dân số, kinh tế thế giới được dự báo tăng trưởng ổn định ở mức 3,1% (theo WB), nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm nông nghiệp trên thế giới có xu hướng tăng nhưng yêu cầu về chất lượng và an toàn thực phẩmcũng ngày càng khắt khe hơn.Bên cạnh lộ trình cắt giảm thuế quan của các FTA song phương và đa phương đã ký kết, các Hiệp định FTA sắp tới có hiệu lực sẽ gia tốc tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới của nền kinh tế nước ta. Tiến trình này gia tăng sự cạnh tranh và rủi ro nhưng cũng là cơ hội để nông nghiệp nước ta thực hiện cơ cấu lại đồng bộ hơn, nhất là gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ, xuất khẩu sản phẩm nông sản.

Những khó khăn khách quan từ năm trước vẫn tồn tại, nhất là xu thế sụt giảm về giá cả và nhu cầu của một số sản phẩm nông nghiệp chủ lực của Việt Nam, đặc biệt là các mặt hàng cây công nghiệp trên thị trường quốc tế vẫn chưa kết thúc. Các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam ngày càng đặt ra các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe đối với nông sản nhập khẩu. Thị trường Trung Quốc không chỉ nâng cao tiêu chuẩn về chất lượng nông sản nhập khẩu, mà còn tăng cường quản lí và siết chặt thương mại biên giới, gắn với chủ trương thúc đẩy nhập khẩu nông sản chính ngạch kể từ 2019. Thị trường EU vẫn giữ cảnh báo thẻ vàng đối với thủy sản khai thác nhập khẩu từ Việt Nam, đồng thời dự thảo các quy định mới về các chất sử dụng trên sản phẩm giống cây trồng. Thị trường Hoa Kỳ tiếp tục duy trì và gia tăng các biện pháp bảo hộ thông qua áp thuế chống bán phá giá đối với các mặt hàng thủy sản, áp dụng Đạo luật Lacey Act đối với nhóm hàng gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam. Nhật Bản và Hàn Quốc cũng thường xuyên rà soát, điều chỉnh các quy định về an toàn thực phẩm và gia tăng tần suất kiểm tra hàng nông thủy sản nhập khẩu, gây bất lợi đến tiến độ xuất khẩu của Việt Nam vào các thị trường này. Biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp,đòi hỏi vừa có những ứng phó trước mắt kịp thời, vừa có chiến lược lâu dài để hạn chế thiệt hại và thích nghi hiệu quả.Cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn do áp lực cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu được giảm thuế theo các cam kết. Nhiều thách thức đặt ra đối với hàng hóa nông sản Việt Nam khi thực hiện các Hiệp định FTA thế hệ mới.

Nghị quyết số 01-NQ/CP của Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội năm 2019 đề ra mục tiêu GDP năm 2019 ở mức 6,8%, trong đó tổng kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng 7-8% (theo Nghị quyết của Quốc hội). Để đạt mức tăng trưởng 6,8% này, theo tính toán của Bộ KHĐT, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản phải đạt tốc độ tăng trưởng 3%; khu vực công nghiệp và xây dựng là 8,57%; còn khu vực dịch vụ là 6,83%. Để triển khai Nghị quyết 01-NQ/CP, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã đặt mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP ngành trên 3,0%, giá trị sản xuất đạt trên 3,11%; kim ngạch xuất khẩu khoảng 42 - 43 tỷ USD. Trong đó, Ngành tiếp tục tập trung chỉ đạo sản xuất để đảm bảo nguồn cung hàng hóa (thủy sản, rau quả, lúa gạo...) có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu; quán triệt tinh thần Chính phủ kiến tạo, phục vụ trong ngành nông nghiệp từ cấp Trung ương tới các địa phương để tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, nhất là các doanh nghiệp nông nghiệp để phát huy tiềm năng, vượt qua thách thức, tận dụng các cơ hội nêu trên.

2. Thách thức biến đổi khí hậu

Theo báo cáo của Tổ chức Nông Lương Liên hiệp quốc (FAO) hiện nay nhiệt độ trái đất tăng bình quân hằng năm là 0,50C và ĐBSCL sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất do biến đổi khí hậu. Trong tương lai, có thể một diện tích đất nông nghiệp khá lớn sẽ bị nhấn chìm bởi nước biển dâng.

Theo kịch bản biến đổi khí hậu đến năm 2020, nước biển dâng 12cm thì diện tích đất trồng lúa bị ảnh hưởng khoảng 555.728 ha, chiếm 28,84% tổng diện tích đất lúa của vùng. Diện tích gieo trồng lúa mất 574,71 nghìn ha và sản lượng lúa giảm 3,11 triệu tấn. Đến năm 2030, nước biển dâng 17cm, diện tích đất lúa bị ảnh hưởng khoảng 640.402 ha, chiếm 33,23% tổng diện tích đất lúa toàn vùng, tăng 0,15 lần so với kịch bản BĐKH năm 2020. Theo đó diện tích gieo trồng lúa bị mất 690,74 ha, tương ứng sản lượng lúa bị mất 3,71 triệu tấn.

Theo kịch bản BĐKH đến năm 2100 thì diện tích đất lúa bị ảnh hưởng do BĐKH là 1.768.343 ha, chiếm 91,77% tổng diện tích đất lúa toàn vùng, tăng 1,76 lần so với kịch bản BĐKH năm 2030, tăng 2,18 lần so với năm 2020.Theo đó diện tích gieo trồng lúa bị mất 2,21 triệu ha và sản lượng lúa mất tương ứng 55,57% tổng sản lượng lúa của vùng. Diện tích canh tác lúa bị ảnh hưởng nhiều nhất là các tỉnh vùng trọng điểm lúa gạo thuộc vùng Đồng Tháp Mười, Tứ giá Long Xuyên như: Kiên Giang, Long An, An Giang, Đồng Tháp. Đây là một thách thức lớn cho việc định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp, phát triển thị trường tiêu thụ các sản phẩm nông sản chủ lực vùng ĐBSCL.

3. Dự báo cung cầu thị trường đối với nông sản chủ lực vùng ĐBSCL

3.1. Thị trường thủy sản (tôm, cá tra)

- Nhu cầu về tôm trên thế giới còn tiếp tục gia tăng trong khi cung không đáp ứng kịp. Kết quả tính toán dựa vào nguồn số liệu của FAO và UNDP (2015) cho thấy nếu khu vực nuôi tôm thế giới không chịu biến động lớn của thị trường, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh, đặc biệt là sự tác động của BĐKH, thì đến năm 2020, lượng cung đạt 3,8 triệu tấn và lượng cầu đạt 4,56 triệu tấn, thiếu hụt khoảng 0,76 triệu tấn; đến năm 2030, lượng cung đạt 4,22 triệu tấn và lượng cầu đạt khoảng 5,25 triệu tấn, lượng tôm thiếu hụt khoảng 1,03 triệu tấn. Trong trường hợp có tác động xấu của BĐKH thì thiếu hụt nguồn cung so với mức tăng trưởng cao của cầu sẽ còn lớn hơn. Hiện nay, kim ngạch xuất khẩu tôm Việt Nam đứng thứ 2 thế giới sau Ấn Độ (khoảng 3,81 tỷ USD năm 2017).

- Nhu cầu cá tra tiếp tục tăng trưởng. Một số kết quả nghiên cứu cho thấy nếu sản lượng tăng 1% thì giá xuất khẩu chỉ giảm bình quân khoảng 0,42% nên thị trường còn nhiều tiềm năng. Ngoài ra, cá tra là sản phẩm đáp ứng nhu cầu thiết yếu và các thị trường nhập khẩu lớn như EU và Bắc Mỹ có khả năng thay thế nhau nên được dự báo sẽ ít bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của quy mô tiêu dùng; tức là ít bị ảnh hưởng bởi suy thoái hay bùng nổ kinh tế. Vì là loại thực phẩm được ưa chuộng bởi nhóm thu nhập thấp nên các thị trường mới nổi như châu Á, Nam Mỹ và châu Phi còn nhiều tiềm năng.

3.2. Thị trường trái cây

Theo FAO, giai đoạn năm 2016 – 2021, thị trường rau, quả có tốc độ tăng trưởng 2,88%; dân số thế giới tăng 1,1%/năm từ 2011 – 2020, thêm 2,5 tỷ người vào năm 2020 do đó tăng nhu cầu rau, quả. Triển vọng giai đoạn 2011 – 2020 tăng trưởng kinh tế thế giới đạt mức 3,2%/năm. Các nhu cầu tiêu dùng trái cây nhập khẩu, trái cây lạ, trái cây đặc sản gia tăng; nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng trái cây tươi, an toàn, hữu cơ (Organic)…

Trên thế giới, thị trường rau quả chiếm hơn 59% trong nhóm thực phẩm tươi sống toàn cầu; Nhu cầu tiêu thụ rau quả trên thị trường thế giới tăng 3,6%/ năm trong khi khả năng tăng trưởng sản xuất chỉ 2,6%/ năm; Nhu cầu nhập khẩu rau quả trên thế giới năm 2018 khoảng 264-270 tỷ USD: các nước phát triển NK 180 tỷ USD và các nước đang phát triển NK 84 -90 tỷ USD;

Tại thị trường trong nước: Theo FAO nhu cầu tiêu thụ trái cây trong nước khoảng 68-70kg/ người; Quy mô dân số 95 triệu và 15-16 triệu khách du lịch tạo ra sức tiêu thụ lớn; Hạ tầng hỗ trợ phân phối tiêu thụ sản phẩm trái cây: 8.600 chợ, 1.223 siêu thị, trung tâm TM; Hệ thống phân phối : Vinmart, SaigonCo.op, Hapro, BigC, Aone, Metro...; 1.300 doanh nghiệp kinh doanh dịch vụlogistics và có 06 trung tâm logistics do các DN đầu tư và quản lý; 1096 chuỗi nông sản an toàn.

Kim ngạch XK năm 2018 của rau, quả đạt3,81 tỷ USD (tăng 9,2%);Riêng kim ngạch xuất khẩu trái cây đạt3,13 tỷ USD, tăng 4,8% so với năm2017 và chiếm 82,05% tổng xuất khẩurau, quả. Xuất khẩu sang 55 thị trường: Trung Quốc: 2,53 tỷ USD, tăng 4,3%so với năm 2017, chiếm 81,03% tổnggiá trị xuất khẩu trái cây; Hoa Kỳ: 3,9%, Hàn Quốc 3,2%, NhậtBản 3,0%, Hà Lan 1,7%, Malaysia1,4%, Thái Lan 1,4%...; Có 14 thị trường: trên 20 triệu USD;Có 5 thị trường: 10 - 20 triệu USD;Có 36 thị trường: đạt từ 1- 10 triệu USD.

Nhu cầu trái cây và cây lâu năm khác gia tăng và nguồn cung chưa đáp ứng. Theo Ngân hàng Thế giới (2016), khối lượng tiêu thụ các sản phẩm rau quả sẽ tăng gấp đôi so với mức 2009, theo đó lượng cầu trái cây ở Việt Nam sẽ tăng từ  5 triệu tấn vào năm 2009 lên 7 triệu tấn vào năm 2030. Trên thế giới, thị trường trái cây được dự báo tiếp tục rộng mở, giá trị xuất khẩu ngành trái cây thế giới ước đạt 100 tỷ USD (2016), và dự báo sẽ đạt 200 tỷ vào năm 2030. Việt Nam là nhà xuất khẩu mới nổi với mức tăng trưởng trung bình 80%/năm giai đoạn 2010-2015 (UNcomtrade, 2017). Khả năng sản xuất đa dạng (chủng loại, mùa vụ) đang là lợi thế của trái cây Việt Nam khi thâm nhập vào thị trường thế giới.

 Đhả năng sản xuất đa dạng (chủng loại, mù ăn quả chủ lực, chiếm khoảng 58% diện tích cây ăn quả toàn miền Nam (các loại đa dạng như xoài, dứa, cam, bưởi, nhãn, sầu riêng, chanh, vú sữa,…).

3.3. Thị trường gạo

Nhu cầu gạo trong nước và quốc tế có xu hướng giảm dần trong khi cung gạọ xuất hiện các đối thủ mới khiến giá gạo giảm. Theo số liệu từ Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam, tại ĐBSCL, khối lượng tiêu thụ bình quân 1 người 1 tháng về gạo đã giảm từ 10,98 kg trong năm 2008 xuống còn 8,8 kg năm 2016. Theo Ngân hàng Thế giới (2016), khối lượng gạo tiêu thụ tại Việt Nam sẽ giảm khoảng 10%.  Năm 2017, lượng gạo thặng dư ở Việt Nam đạt 5,66 triệu tấn sau khi đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ và dự trữ trong nước. Với ĐBSCL, lượng gạo thặng dư cũng đạt 4,77 triệu tấn. Dự báo đến năm 2030, thặng dư gạo ở Việt Nam đạt từ 6,91 đến 6,97 triệu tấn, con số này ở ĐBSCL vào khoảng 5,84 đến 6,4 triệu tấn. Tuy lượng thặng dư gạo tăng lên nhưng dự báo diện tích lúa năm 2030 ở Việt Nam chỉ còn 3,4 triệu ha, giảm 0,75 triệu ha so với năm 2017. Riêng vùng ĐBSCL, diện tích đất lúa năm 2030 dao dộng trong khoảng 1,55-1,64 triệu ha so với năm 2017 là 2 triệu ha.

Theo OECD/FAO (2015), gạo được dùng chủ yếu làm thức ăn cho người sẽ có mức cầu tăng rất chậm với tổng mức giao dịch thương mại về gạo toàn cầu chỉ tăng khoảng 1,5% trong giai đoạn 2016-2024. Về cung gạo, bên cạnh các quốc gia có truyền thống xuất khẩu gạo vẫn tiếp tục duy trì sản xuất, đã xuất hiện một số đối thủ cạnh tranh mới như Campuchia, và Myanmar, làm cho thị trường xuất khẩu gạo hẹp đi, và có xu hướng kéo mặt bằng giá gạo đi xuống. Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới, giá gạo của Việt Nam sẽ giảm 10% từ 423 USD/tấn vào năm 2014 xuống còn 380 USD/tấn vào năm 2025.  

Năm 2018, 10 quốc gia tiêu thụ nhiều nhất chiếm tới trên 88,5%, trong đó, tiêu thụ nội địa của Trung Quốc đạt 142,7 triệu tấn, Ấn độ đạt 100 triệu tấn, Indonesia đạt 38,1 triệu tấn, Bangladesh đạt 35,2 triệu tấn và Việt Nam là 22,2 triệu tấn. Một số nước xuất khẩu chính như Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam, Pakistan và Mỹ. Một số nước nhập khẩu chính như Trung Quốc, Nigeria, EU, Bờ biển Ngà, Ả Rập Xê Út…

Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) tại báo cáo tháng 02/2019 về Thương mại và thị trường ngũ cốc thế giới:

Về sản lượng gạo toàn cầunăm 2019 dự báo đạt 495,9 triệu tấn, giảm 0,16% (khoảng 0,8 triệu tấn) so với năm 2018 (495,1 triệu tấn). Nguyên nhân chủ yếu do giảm diện tích canh tác tại các vùng có năng suất cao như Trung Quốc và Ai Cập

Về tiêu thụ gạo toàn cầu năm 2019  dự báo đạt 490,27 triệu tấn, tăng 1,2% (khoảng  7,5 triệu tấn) so với năm 2018 (482,7 triệu tấn).

Về tồn kho toàn cầu năm 2019 dự báo đạt 167,6 triệu tấn, tăng khoảng 3,46% (khoảng 5,6 triệu tấn) so với năm 2018. Đây cũng là mức dự trữ/tồn kho lúa gạo lớn nhất trong 12 năm trở lại đây.

Về phía cung xuất khẩu của thế giới, mặc dù sản lượng lúa gạo toàn cầu dự báo giảm nhẹ trong năm 2019, nhưng lúa gạo cho xuất khẩu toàn cầu vẫn tăng nhẹ. Khối lượng gạo xuất khẩu toàn cầu năm 2019 dự báo đạt 48,1 triệu tấn, tăng 0,21% so với năm 2018. Một số nước được dự báo 2019 tăng xuất khẩu gạo như Trung Quốc đạt 2,5 triệu tấn, tăng 31,6% so với năm 2018, Việt Nam năm có thể đạt 7 triệu tấn, tăng 4,48% so với năm 2018. Ngược lại, một số nước dự báo khối lượng gạo xuất khẩu năm 2019 giảm so với năm 2018 đối với một số nước như Thái Lan (-2,9%), Brazil (-19,1%), và Uruguay (-11,1%), Campuchia (-23,08%).

Về phía nhu cầu nhập khẩu của thế giới, khối lượng gạo nhập khẩu toàn cầu năm 2019 dự báo đạt 45,2 triệu tấn, giảm 1,53% so với năm 2018. Nhu cầu của các thị trường nhập khẩu gạo chính trên thế giới trong năm 2019 dự báo tăng. Khối lượng gạo nhập khẩu của một số thị trường tăng so với năm 2018 như Benin, Malaysia, Bờ biển Ngà (100 nghìn tấn), Iran, Iraq, Senegal (150 nghìn tấn) tấn. Ngược lại, khối lượng nhập khẩu gạo tại một số thị trường có xu hướng giảm so với năm 2018 như Indonesia giảm 1,5 triệu tấn, Bangladesh giảm khoảng 200 nghìn tấn, Trung Quốc giảm 100 nghìn tấn.

Các dự báo về thị trường ở trên cho thấy ĐBSCL có cơ hội rộng lớn để mở rộng thị trường cho các sản phẩm mà ĐBSCL có lợi thế, đặc biệt là các cơ hội cho các sản phẩm chế biến, giá trị gia tăng cao vào các thị trường cao cấp. Sản phẩm tôm, cá tra, trái cây có cơ hội lớn nhất. Tôm có tiềm năng tiếp tục mở rộng ra thị trường dự báo sẽ thiếu hụt hơn 1 triệu tấn năm 2030, với các thị trường lớn là Nhật, Châu Âu, Mỹ.  Cá tra có cá thị trường lớn là Châu Âu, Mỹ, Trung Quốc và các thị trường mới nổi như châu Á, Nam Mỹ và châu Phi. Trái cây có tiềm năng mở rộng cả thị trường trong nước và quốc tế. Sản phẩm gạo tuy nhu cầu trong nước và thế giới có xu hướng giảm nhưng thị trường gạo chất lượng cao vẫn còn rộng mở như Châu Âu, Nhật Bản. Bên cạnh đó, thị trường Trung Quốc rộng lớn vẫn là cơ hội lớn cho nông sản Việt Nam.

4. Định hướng, giải pháp phát triển thị trường

4.1. Các giải pháp tổng thể của ngành

Để đạt được các mục tiêu đề ra, ngành nông nghiệp cần tập trung triển khai một số giải pháp như sau:

Thứ nhất, chú trọng cải cách thể chế, hoàn thiện hành lang pháp lý, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh để huy động nguồn lực đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp sản xuất. Đồng thời, đẩy mạnh đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho người dân, tổ chức trong việc sản xuất, kinh doanh.

Thứ hai, triển khai thực hiện tốt việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo 3 trục sản phẩm: nhóm sản phẩm chủ lực quốc gia; nhóm sản phẩm chủ lực cấp tỉnh; nhóm sản phẩm đặc sản địa phương theo mô hình “mỗi xã phường một sản phẩm”. Đồng thời, xây dựng các sản xuất theo chuỗi để nâng cao chất lượng đối với sản phẩm chủ lực để mở cửa và phát triển thị trường.

Thứ ba, Bộ phối hợp với các cơ quan chức năng đẩy mạnh việc xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia, tiến tới hài hòa hóa với các quy định của các thị trường nhập khẩu khu vực và trên thế giới; tập trung xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu quốc gia, đồng thời  phát triển và nhân rộng việc thực hiện cấp mã số vùng sản xuất, truy xuất nguồn gốc qua đó tạo tiền đề vững chắc cho các mặt nông sản của Việt Nam đáp ứng khẳ năng cạnh tranh trong xu thế hội nhập quốc tế.

Thứ tư, tiếp tục đàm phán mở cửa thị trường chính ngạch cho các sản phẩm hoa quả tươi, rau, thủy sản sang các thị trường có yêu cầu chất lượng cao; Duy trì và phát triển bền vững thị trường Trung Quốc, mở rộng thị trường nông sản sang những nền kinh tế có cơ cấu bổ sung với Việt Nam như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Liên minh Châu Âu hay Trung Đông; Lựa chọn và đưa các sản phẩm phù hợp vào các thị trường tiềm năng như: Nga, Trung Đông, Châu Phi, ASEAN...

Thứ năm, đẩy mạnh khai thác có hiệu quả các thị trường xuất khẩu, đặc biệt là các thị trường mà Việt Nam đã ký kết FTA, tăng cường công tác tuyên truyền và tổ chức triển khai tận dụng tốt các cam kết hội nhập quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, đặc biệt là CPTPP để thu hút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy mạnh mẽ xuất khẩu nông sản. Đồng thời, tiếp tục đàm phán các Hiệp định như: Hiệp định FTA Việt Nam - Israel; Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực RCEP, Hiệp định FTA Việt Nam –EFTA;

Thứ sáu, tăng cường các biện pháp tháo gỡ các rào cản kỹ thuật và rào cản thương mại của các nước nhằm tạo điều kiện  thuận lợi cho hàng hóa nông sản của Việt Nam thâm nhập vào thị trường các nước.

Thứ bảy, đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo, cảnh báo đối với các biện pháp phòng vệ thương mại áp dụng lên hàng hóa nông sản xuất khẩu của Việt Nam. Kịp thời chỉ đạo các giải pháp cụ thể, quyết liệt, có định hướng để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu, phát triển thị trường.

Thứ tám, tiếp tục theo dõi sát biến động của tình hình thế giới, đặc biệt là diễn biến xung đột thương mại Mỹ - Trung để chủ động trong công tác điều hành, có biện pháp thúc đẩy xuất khẩu những mặt hàng có khả năng tận dụng cơ hội để xuất khẩu.

Thứ chín, tăng cường các biện pháp chống gian lận xuất xứ để bảo vệ hàng hóa nông sản xuất khẩu của Việt Nam trước rủi ro của những vụ kiện chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại hiện đang có nguy cơ leo thang trở lại, đặc biệt do ảnh hưởng của việc Hoa Kỳ và các quốc gia tăng cường các biện pháp phòng vệ thương mại và trừng phạt gian lận thương mại để kiểm soát nguy cơ gia tăng nhập khẩu do hàng hóa xuất khẩu dư thừa của Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Thứ mười,chủ động để phối hợp, triển khai các nhiệm vụ xúc tiến thương mại, hỗ trợ xúc tiến đầu tư, giới thiệu và quảng bá các sản phẩm nông sản là thế mạnh của Việt Nam ra thị trường thế giới.

Duy trì xúc tiến quảng bá các sản phẩm nông sản chất lượng, an toàn thực phẩm thông qua các Hội chợ triển lãm nông nghiệp lớn trong nước (Agroviet, Crafviet, Vietfish, VietShrimp), kết nối cung cầu các địa phương theo chuỗi liên kết; đẩy mạnh kết nối các doanh nghiệp nông nghiệp trong và ngoài nước thông qua các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản. Tham gia các Hội chợ quốc tế lớn ngành nông nghiệp tại các thị trường trọng điểm (Trung Quốc, Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản), tiềm năng (ASEAN, Liên bang Nga, Trung Đông) để quảng bá, giới thiệu các sản phẩm đang có triển vọng, còn dư địa mở rộng thị trường như rau quả, thủy sản (tôm và cá tra), gạo (ưu tiên gạo chất lượng cao, gạo thơm) và sản phẩm chăn nuôi.

4.2. Một số giải pháp phát triển thị trường tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp chủ lực vùng ĐBSCL

Bên cạnh thành tựu đạt được, nông nghiệp ĐBSCL vẫn còn tồn tại một số hạn chế: Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp giảm từ mức 7,15%/năm giai đoạn 2001 – 2010, xuống còn khoảng 5% giai đoạn 2011 – 2016, cơ cấu dịch chuyển chậm, vẫn chủ yếu dựa vào trồng trọt. Tăng trưởng nông nghiệp của vùng vẫn theo chiều rộng, dựa trên thâm canh tăng vụ và sử dụng nhiều vật tư đầu vào mà chưa tạo ra được chất lượng, giá trị gia tăng cao. Thị trường cho các sản phẩm nông sản của vùng đã được mở rộng nhưng tỷ lệ chế biến thấp, chưa thoát khỏi tình trạng sản xuất nguyên liệu thô, tươi với sức cạnh tranh và giá trị gia tăng thấp. Xu hướng đa dạng hóa thị trường xuất khẩu còn chậm, kém cạnh tranh, giá trị gia tăng thấp và đối mặt với nhiều rủi ro về rào cản thương mại và biến động thị trường.

Xác định nhóm các sản phẩm nông nghiệp chủ lực vùng ĐBSCL tập trung phát triển thị trường tiêu thụ trong nước, đẩy mạnh xúc tiến xuất khẩu sang các thị trường trọng điểm nước ngoài (xếp theo thứ tự ưu tiên):

(i) Thủy sản (tôm, cá tra)

(ii) Trồng trọt (trái cây)

(iii) Lúa gạo

4.2.1. Giải pháp đối với ngành hàng thủy sản

- Tập trung tháo gỡ rào cản kỹ thuật, giải quyết vướng mắc sản phẩm thủy sản ở các thị trường Mỹ (Chương trình Giám sát nhập khẩu thủy sản SIMP áp dụng nhiều quy định kiểm soát mặt hàng thủy sản trong đó có tôm, cá ngừ, cá kiếm, bào ngư, hải sâm, chương trình Luật Farm Bill đối với tôm và cá rô phi) và EU (đặc biệt đối với việc EU rút thẻ vàng với các sản phẩm thủy sản Việt Nam), đồng thời hài hòa hóa các quy định về kiểm soát thủy sản theo thông lệ quốc tế.

- Tập trung đàm phán, xúc tiến xuất khẩu cho các mặt hàng thủy sản vào thị trường Trung Quốc; tiến hành trao đổi với phía bạn về các quy định, tiêu chuẩn chất lượng đối với thủy sản để làm cơ sở cho việc cấp chứng thư nhập khẩu đổi với thủy sản xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc.

- Đẩy nhanh quá trình cho phép nhập khẩu tôm tươi nguyên con, tiếp tục tháo gỡ rào cản thương mại cho sản phẩm thủy sản (tôm) tại thị trường Úc.

-Thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm thủy sản sang các thị trường tiềm năng, còn nhiều dư địa như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nga, Ba Lan, khối Liên minh Á - Âu...

- Phát triển các vùng nuôi thủy sản thâm canh ứng dụng công nghệ cao, nuôi an toàn sinh học, bảo vệ môi trường sinh thái để phát triển vùng nguyên liệu gắn với phát triển thị trường xuất khẩu.

- Đẩy mạnh phát triển công nghệ chế biến thủy sản theo công nghệ cao, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn của các thị trường EU, Nhật Bản, Mỹ, Úc.

4.2.2. Giải pháp đối với ngành hàng trồng trọt

- Rà soát, xây dựng, phát triển các vùng trồng cây ăn quả hàng hóa tập trung; liên kết tổ chức sản xuất, hình thành các hợp tác xã, tổ sản xuất, tổ liên kết sản xuất; hợp tác xã kiểu mới với vai trò liên kết sản xuất đảm bảo truy xuất nguồn gốc, kết nối các doanh nghiệp thu mua tiêu thụ sản phẩm; hình thành các liên kết vùng trong sản xuất, tiêu thụ, xuất khẩu trái cây.

- Tập trung xây dựng, phát triển các chuỗi giá trị, tiêu thụ sản phẩm thông qua hợp đồng; giảm dần việc tiêu thụ sản phẩm thông qua thương lái.

- Khuyến khích các doanh nghiệp tăng cường ứng dụng KHKT, đầu tư đổi mới thiết bị, dây chuyền công nghệ  hiện đại và đồng bộ; nâng cao công suất chế biến, bảo quản trái cây. Đa dạng hóa sản phẩm chế biến, tăng cường chế biến sâu: quả đông lạnh, đóng hộp, chiên sấy, nước quả tự nhiên, nước quả cô đặc, đông lạnh; Khuyến khích đầu tư các cơ sở xử lý sau thu hoạch (chiếu xạ, xông hơi nước nóng,...) đảm bảo yêu cầu xuất khẩu trái cây tươi.

- Đẩy mạnh tổ chức xúc tiến thương mại giới thiệu quảng bá tại các hội chợ, diễn đàn, triểnlãm quốc tế để thúc đẩy tiêu thụ các trái cây có lợi thế xuất khẩucủa Việt Nam đối với các thị trường lớn, thị trường có tiềm năng, nhằm nâng giá trị tiêu thụ và mở mới thị trường mới.

- Thúc đẩy đàm phán, tháo gỡ rào cản, ký kết các hiệp định kiểm dịch thực vật,đẩy nhanh việc hoàn tất các thủ tục mở cửa thị trường cho tráicây Việt Nam vào một số thị trường trọng tâm như Trung Quốc(sầu riêng, khoai lang, bưởi, chanh leo, bơ, na, roi, dừa), HoaKỳ (bưởi, bơ, sầu riêng), Nhật Bản (nhãn, vải, bưởi, chômchôm, vú sữa); Đài Loan (chôm chôm); Myanmar (nhãn, vải,thanh long, chôm chôm); Ấn Độ (thanh long, nhãn, bưởi, chômchôm và sầu riêng); Úc (nhãn,); Hàn Quốc (vú sữa), NewZealand (bưởi, nhãn), …

- Đẩy nhanh việc cấp mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm để đáp ứng yêu cầu của các thị trường xuất khẩu; Hỗ trợ xây dựng thương hiệu, đăng ký chỉ dẫn địa lý sản phẩm quả; Các ngành liên quan hỗ trợ giảm chi phílogistic đối với trái cây tươi xuất khẩu:miễn/giảm phí đối với trái cây tươi xuất khẩuqua đường hàng không.

4.2.3. Về lúa gạo

  • Triển khai có hiệu quả Đề án Tái cơ cấu ngành lúa gạo; tập trung nâng cao năng suất, chất lượng gạo đáp ứng thông lệ và quy định của thị trường. Thực hiện tốt Nghị định 98/2018/NĐ-CP ngày 05/7/2018 của Chính phủ về chính sách khuyến khích liên kết sản xuất nông nghiệp.

-Quảng bá mạnh mẽ thương hiệu quốc gia “Gạo Việt Nam” sang các thị trường được đăng ký, bảo hộ sở hữu trí tuệ; Phát triển hiệu quả thương hiệu gạo vùng, địa phương đã được bảo hộ; Xây dựng và phát triển mới các thương hiệu gạo vùng, địa phương. 

- Tăng cường năng lực của các doanh nghiệp trong xây dựng và phát triển thương hiệu doanh nghiệp, nhãn hiệu sản phẩm gạo; hỗ trợ tư vấn cho doanh nghiệp trong đăng ký bảo hộ thương hiệu doanh nghiệp, nhãn hiệu sản phẩm gạo ở trong nước và ngoài nước.

- Xây dựng và triển khai các chương trình xúc tiến thương mại; hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp giới thiệu, quảng bá thương hiệu doanh nghiệp, nhãn hiệu sản phẩm gạo; phát triển kênh phân phối của doanh nghiệp trên thị trường trong nước và ngoài nước.

- Hỗ trợ xây dựng vùng nguyên liệu, công nghệ, cơ sở hạ tầng, quản trị thương hiệu, quản lý chất lượng cho doanh nghiệp sử dụng thương hiệu gạo quốc gia, vùng, địa phương gắn với thương hiệu doanh nghiệp, sản phẩm gạo.

- Hợp tác giữa các cơ quan xúc tiến thương mại của nhà nước về khảo sát thị trường; tổ chức, tham gia triển lãm, hội chợ, hội nghị, hội thảo về sản xuất, kinh doanh gạo, xây dựng và phát triển kênh phân phối riêng tại thị trường nước ngoài thông qua các chương trình xúc tiến thương mại quốc gia.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan