Chủ nhật, 14/08/2022 - 18:51
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Kết quả cơ cấu lại nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long thíchứngvới biến đổi khí hậu và nhiệm vụ, giải pháp thời gian tới

I. KẾT QUẢ TÁI CƠ CẤU NÔNG NGHIỆP VÙNG ĐBSCL

1. Một số kết quả phát triển nông nghiệp vùng ĐBSCL

- Nông nghiệp ĐBSCL phát triển vượt bậc, toàn diện và đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đưa ĐBSCL thành vùng nông nghiệp trọng điểm của Việt Nam, góp phần phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội.

Trong giai đoạn 2016 - 2018, nông nghiệp ĐBSCL đạt tốc độ tăng trưởng GDP 3%/năm, cao hơn mức tăng bình quân cả nước (2,67%/năm); đóng góp khoảng 34,6% GDP toàn ngành nông nghiệp cả nước và chiếm 33,5% GDP chung vùng ĐBSCL.

Năm 2018, ĐBSCL đứng đầu cả nước về sản lượng lúa, tôm, cá tra và trái cây (sản lượng lúa 24,5 triệu tấn, chiếm 56% sản lượng cả nước; sản lượng tôm 0,623 triệu tấn, chiếm 70%; sản lượng cá tra 1,41 triệu tấn, chiếm 95%; sản lượng trái cây 4,3 triệu tấn, chiếm 60%). Kim ngạch xuất khẩu các nông sản chủ lực ĐBSCL (gạo, cá tra, tôm, trái cây) đạt 8,43 tỷ USD[1], chiếm 73,34% kim ngạch xuất khẩu các nông sản chủ lực này của cả nước.

- Nông nghiệp ĐBSCL đã từng bước hình thành các vùng sản xuất tập trung quy mô lớn, chuyên canh nông sản chủ lực (tôm, cá tra, lúa gạo, trái cây) gắn với công nghệ chế biến, tiêu thụ theo chuỗi giá trị nông sản; cơ cấu sản xuất chuyển dịch tích cực theo hướng thị trường, thích ứng hơn với BĐKH, đảm bảo chất lượng và năng lực cạnh tranh.

Cơ cấu sản xuất nông nghiệp ĐBSCL chuyển dịch theo hướng tăng thủy sản, trái cây; giảm lúa. Các hoạt động chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ, cơ cấu giống và ứng dụng kỹ thuật canh tác, quy trình sản xuất thích ứng hơn với BĐKH tiếp tục được đẩy mạnh[2]. Giai đoạn 2015 - 2018, diện tích gieo trồng lúa giảm mạnh khoảng 195 nghìn ha (từ 4.302 nghìn ha xuống 4.107 nghìn ha) chủ yếu do giảm vụ, tương ứng tỷ trọng giá trị sản xuất lúa gạo trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp giảm từ 27,7% xuống 26,4%; diện tích nuôi trồng thủy sản tăng từ 742,7 nghìn ha lên 807,3 nghìn ha, tỷ trọng giá trị sản xuất ngành thủy sản tăng từ 35,4% lên 42%[3]; diện tích trái cây tăng từ 308,6 nghìn ha lên 347,6 nghìn ha, tỷ trọng giá trị sản xuất ngành trái cây tăng từ 9,1% lên 10,2%.

- Công tác nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao giống mới, kỹ thuật canh tác, quy trình sản xuất thích ứng hơn với BĐKH được đẩy mạnh[4]; các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, ASC được tăng cường áp dụng. Đã chuyển mạnh sang sử dụng giống lúa chất lượng cao, lúa nếp, lúa thơm (chiếm khoảng 83% diện tích). Hệ thống giống trái cây phát triển đa dạng với nhiều loại giống nhập từ nước ngoài cho năng suất cao và các giống chịu đựng được phèn, mặn đã được nghiên cứu và lai tạo. Đến năm 2018, ĐBSCL sản xuất được khoảng 26 tỷ con cá bột, hơn 2,6 tỷ cá tra giống đảm bảo chất lượng để cung cấp cho nuôi thương phẩm.

- Công nghiệp chế biến nông sản, bảo quản sau thu hoạch đạt được nhiều kết quả, góp phần phát triển sản xuất hàng hoá quy mô lớn và ổn định kinh tế - xã hội; tỷ lệ chế biến tăng cao trong ngành thủy sản, đặc biệt là cá tra.

- Xây dựng, phát triển các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ nông sản, hình thành những vùng sản xuất tập trung, từ đó ứng dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học kỹ thuật để sản xuất với khối lượng lớn và chất lượng đảm bảo. Riêng diện tích sản xuất lúa cánh đồng lớn vùng ĐBSCL có 427,8 nghìn ha (chiếm tới 73,9% diện tích cánh đồng lớn của cả nước).

- Hệ thống thủy lợi và phòng chống thiên tai bước đầu chuyển đổi đáp ứng nền nông nghiệp thích ứng BĐKH. Hệ thống thủy lợi giúp đảm bảo tưới tiêu cho 90% diện tích lúa vụ Đông Xuân - Hè Thu, đồng thời chú trọng phát triển thủy lợi phục vụ sản xuất thủy sản và cây trồng cạn. Hình thành hệ thống đê ngăn mặn, kiểm soát triều cường, sóng cao và đang nâng dần lên khả năng chống chọi với nước dâng do bão, lũ, phát huy tốt hiệu quả trong kiểm soát mặn. Cơ sở dữ liệu ngành thủy lợi, phòng chống thiên tai được xây dựng theo 3 vùng (vùng thượng, vùng giữa và vùng ven biển) phục vụ công tác chỉ đạo điều hành. Các hoạt động xử lý sạt lở cấp bách bờ sông, bờ biển được triển khai; trong đó đã hướng dẫn thực hiện các giải pháp kỹ thuật, xử lý khẩn cấp những đoạn sụt lún, sạt lở trọng điểm đối với 11 dự án cụ thể; chỉ đạo cắm biển cảnh báo, xây dựng bản đồ sạt lở vùng ĐBSCL, bố trí ngân sách xây dựng công trình phòng chống sạt lở, ưu tiên 29 dự án xử lý cấp bách với tổng kinh phí là 2.500 tỷ đồng.

- Diện mạo nông thôn vùng ĐBSCL được khởi sắc, có nhiều đổi mới. Tính đến tháng 5 năm 2019, toàn vùng có 516 xã đạt chuẩn nông thôn mới (chiếm 40,1%), gấp 2,7 lần so với thời điểm năm 2015, bình quân đạt 15,43 tiêu chí/xã. 

2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

a) Tồn tại, hạn chế

          - Chuyển dịch cơ cấu và đổi mới tổ chức sản xuất đã có nhiều tiến bộ; tuy nhiên vẫn còn chậm, sản xuất nhỏ, phân tán chưa được khắc phục triệt để; liên kết, hợp tác sản xuất giữa các chủ thể để hình thành các chuỗi giá trị chưa nhiều.

          - Ứng dụng công nghệ cao, công nghệ hiện đại vào sản xuất, chế biến, bảo quản còn hạn chế, chưa tạo được “đột phá” để nâng cao giá trị gia tăng, sức cạnh tranh. Thị trường tiêu thụ nông sản thiếu bền vững, chưa đủ đáp ứng được sức sản xuất lớn và đang gia tăng của nền nông nghiệp hàng hóa.

          - Năng lực thích ứng BĐKH và ứng phó với thiên tai chưa được cải thiện nhiều. Các mô hình sản xuất bền vững, thích ứng với BĐKH chưa có đủ cơ sở về kỹ thuật và thị trường cũng như động lực và hỗ trợ đủ mạnh để nhân rộng mô hình. Các hệ lụy về môi trường ngày càng rõ, làm tăng tính dễ bị tổn thương.

          - Kết quả xây dựng NTM đạt được nhiều thành tựu, nhưng vẫn thấp hơn so với mặt bằng chung cả nước. Việc làm phi nông nghiệp thiếu bền vững; tỷ lệ di cư ra khỏi vùng cao và phần lớn đi vào khu vực phi chính thức.

b) Nguyên nhân

Các nguyên nhân chính bao gồm: (i) Quá trình xây dựng và triển khai chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của các cấp, các ngành nói chung còn thiếu đồng bộ và chậm so với thực tế thay đổi nhanh chóng về thị trường, biến đổi khí hậu, phát triển thượng nguồn và nội tại của ĐBSCL; (ii) Công nghiệp, dịch vụ, giao thông, logistics chưa hỗ trợ hiệu quả cho phát triển nông nghiệp hàng hoá; (iii) Công tác thu hút đầu tư, tạo lập và phát triển các chuỗi giá trị nông sản gắn với phát triển, mở rộng thị trường chưa đạt hiệu quả như mong muốn; (iv) Trình độ năng lực nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao KHCN còn hạn chế; (v) Công tác dự báo diễn biến và tác động của BĐKH, hoạt động thượng nguồn, ảnh hưởng của thiên tai chưa đồng bộ, có lúc chưa kịp thời.

II. CƠ HỘI, THÁCH THỨC TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ TÁC ĐỘNG ĐẾN CƠ CẤU LẠI NÔNG NGHIỆP VÙNG ĐBSCL

1. Cơ hội, thuận lợi

(1) Nghị quyết 120/NĐ-CP và một loạt chính sách cho thấy quyết tâm của Chính phủ trong phát triển bền vững ĐBSCL; theo đó xác định tầm nhìn đến năm 2100 là “ĐBSCL phát triển bền vững, an toàn, thịnh vượng, trên cơ sở phát triển phù hợp nông nghiệp hàng hoá chất lượng cao, kết hợp với dịch vụ, du lịch sinh thái, công nghiệp, trọng tâm là công nghiệp chế biến, nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp; hệ thống cơ sở hạ tầng được quy hoạch, phát triển đồng bộ, hiện đại theo hướng chủ động, thông minh, thích ứng biển đổi khí hậu, đảm bảo an toàn trước thiên tai; tài nguyên thiên nhiên được sử dụng hợp lý; đa dạng sinh học và truyền thống văn hóa lịch sử được duy trì và tôn tạo, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao”; Bộ Nông nghiệp và PTNT đã chủ động vào cuộc quyết liệt thực hiện Nghị quyết với 4 nhiệm vụ lớn gồm: (i) Xây dựng Chương trình tổng thể phát triển nông nghiệp bền vững thích ứng với BĐKH vùng ĐBSCL; (ii) Rà soát thủy lợi và phòng chống thiên tai; (iii) Xây dựng và triển khai Đề án phòng chống sạt lở bờ sông, bờ biển; (iv) Xây dựng và triển khai Chương trình giống chủ lực ĐBSCL. Bộ đã trình Chính phủ ban hành và tham gia xây dựng một loạt chính sách thúc đẩy phát triển nông nghiệp nói chung, trong đó có ĐBSCL[5]; đang chủ trì sửa đổi Nghị định 35/2015/NĐ-CP về quản lý sử dụng đất trồng lúa...; tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Dự án Chuyển đổi nông nghiệp bền vững Vnsat, trong đó có một số tỉnh ĐBSCL, Dự án Chống chịu khí hậu tổng hợp và sinh kế bền vững ĐBSCL do WB tài trợ.

(2) Các dự báo về thị trường cho thấy cơ hội lớn cho trái cây và thủy sản, đặc biệt là các sản phẩm chế biến vào các thị trường cao cấp[6]. Áp dụng KHCN, nhất là công nghệ 4.0 và hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến vào chế biến và cơ giới hóa để kiểm soát được chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc nông sản, đáp ứng tốt yêu cầu của thị trường tiêu thụ, bảo vệ môi trường; mở ra cơ hội gia tăng giá trị và tính thích ứng nhờ xử lý các điểm nghẽn lớn về vật tư đầu vào, chế biến, bảo quản, quản trị và tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị. Cơ sở hạ tầng giao thông, hệ thống logistics được đầu tư theo quy hoạch sẽ mở rộng giao thương hàng hóa nông sản của ĐBSCL.

(3) Xâm nhập mặn gia tăng sẽ thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn khi mở ra cơ hội phát triển tiềm năng nuôi tôm và các sản phẩm khác thích ứng với chịu mặn, hình thành sản phẩm đặc sản của vùng, địa phương có giá trị cao và bền vững hơn.

2. Khó khăn, thách thức

(1) ĐBSCL cùng lúc chịu nhiều tác động lớn: Một là, tác động biến đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn nhất; với nền đất thấp, đối diện với 2 mặt biển cả phía Đông và Tây, ĐBSCL là một trong những vùng hứng chịu nặng nề nhất tác động BĐKH. Hai là, tác động phía thượng nguồn sông Mê công do các hoạt động kinh tế sử dụng nguồn nước, như thủy điện, chuyển nước khỏi lưu vực hệ thống, suy giảm nhanh diện tích rừng, thảm thực bì (nơi giữ nước, điều tiết nước) đã, đang và sẽ diễn ra ngày càng nghiêm trọng làm thay đổi căn bản quy luật dòng chảy khi vào đến địa phận Việt Nam. Ba là, những điểm bất hợp lý trong sự phát triển kinh tế nội tại, như thâm canh lúa 3 vụ, suy giảm tài nguyên rừng, khai thác tài nguyên cát sỏi, nguồn nước ngầm, xây dựng hạ tầng, nhà ở ven sông cùng với các hoạt động kinh tế khác cũng gây nên tổn thương lớn đến vùng châu thổ và sự phát triển bền vững.

(2) Tốc độ sụt lún trung bình dự báo đến năm 2040 là 1,5 - 3cm/năm nếu không kiểm soát được khai thác nước ngầm, mực nước ngầm giảm trung bình khoảng 0,2 - 0,4m/năm. Sự cộng hưởng tác động đã làm cho tốc độ sạt lở, đặc biệt trong những năm gần đây, diễn ra nhiều hơn, nhanh hơn gây thiệt hại đến tài sản và đe dọa tính mạng người dân cũng như các thiết chế hạ tầng kinh tế. Sạt lở bờ biển đã làm cho diện tích rừng ngập mặn suy giảm khá nhanh, nếu không quyết liệt giữ sẽ dần dần biến mất. Bên cạnh đó, nguy cơ ngập khoảng 38,9% diện tích khi nước biển dâng 1m theo kịch bản BĐKH trung bình, trong đó một số vùng úng ngập cục bộ do không tiêu thoát được khi cùng lúc triều cường dâng cao và nước lũ lên nhanh (Phía Bắc Quản Lộ Phụng Hiệp ở Hậu Giang, Cần Thơ). Trong 50 năm tới, khoảng 47% diện tích bị ảnh hưởng bởi độ mặn 4‰ và có tới 64% diện tích ảnh hưởng bởi độ mặn 1‰, trong đó bán đảo Cà Mau bị mặn nghiêm trọng nhất. Ngoài ra, lũ dự báo ít “lũ đẹp” và sẽ cực đoan hơn, những năm El Nino khô hạn sẽ nghiêm trọng, những năm La Nina lũ cao hơn và có lũ chồng lũ; đến 2050, bờ biển xói lở từ 34 - 44m/năm, gấp đôi so với 40 năm qua[7]. Hạn mặn xuất hiện nhiều hơn, môi trường nước mặt ô nhiễm, một bộ phận người dân sẽ thiếu nước sinh hoạt trong các tháng mùa khô.

Tất cả các dạng tác động xấu đó xảy ra ngày càng phức tạp hơn, gây ra thiệt hại lớn hơn; các yếu tố đó làm cho cấu trúc mùa vụ thay đổi, dịch bệnh gia tăng; hệ canh tác cũ không còn phù hợp: (i) Hạn, mặn dẫn đến lúa không đủ nước ngọt, thời vụ cũ sẽ có khó khăn do những sự thay đổi bất thường của thời tiết, khí hậu; (ii) Sự thay đổi quy luật đó cũng đã ảnh hưởng trực tiếp đến nuôi trồng thủy sản mặn lợ, do sự thay đổi nhanh chóng độ mặn và môi trường nước; (iii) Với cây ăn quả, sự thay đổi mùa mưa, tần suất, cường độ làm ảnh hưởng lớn quy luật sinh trưởng, điều kiện khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, úng ngập cùng với đê bao khép kín làm giảm dinh dưỡng đất và gây nén dẽ đất khiến rễ thiếu dưỡng khí là nguyên nhân nhiều loại quả, nhiều nhà vườn mất mùa vì không đậu quả.

(3) Thị trường biến động khó lường, nhất là thị trường quốc tế, các tiêu chuẩn kiểm soát ngày càng nghiêm ngặt hơn. Nông nghiệp Việt Nam đã tham gia quá trình hội nhập và toàn cầu hóa thương mại với các FTAs; trong sân chơi toàn cầu đó, Việt Nam chấp nhận cam kết không bảo hộ và tuân thủ hầu hết các tiêu chuẩn của các quốc gia thành viên và thị trường thế giới.

(4) Những hạn chế, yếu kém nội tại của nền sản xuất nhỏ chậm được khắc phục, cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn còn nhiều yếu kém, nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế là thách thức lớn để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ĐBSCL.

III. Mục tiêu, định hướng, giải pháp thúc đẩy tái cơ cấu ngành, sản phẩm nông nghiệp vùng ĐBSCL trong thời gian tớ

1. Mục tiêu phát triển  

Phát triển nông nghiệp ĐBSCL bền vững, an toàn trên cơ sở sản xuất nông nghiệp hàng hóa hiện đại, chất lượng cao, kết hợp phát triển du lịch sinh thái, công nghiệp chế biến, nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của nông sản. Cơ sở hạ tầng được quy hoạch, phát triển đồng bộ, hiện đại theo hướng chủ động, thông minh, thích ứng BĐKH, đảm bảo an toàn trước thiên tai; tài nguyên thiên nhiên được quản lý, sử dụng hợp lý; đa dạng sinh học và truyền thống văn hóa lịch sử được duy trì và tôn tạo, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao, thu nhập bình quân đầu người cao hơn trung bình cả nước.

2. Định hướng phát triển

a) Định hướng chung

- Cơ cấu lại nông nghiệp ĐBSCL gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và xây dựng nông thôn mới, nhằm tạo đột phá trong phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững, nâng cao giá trị gia tăng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh, thích ứng với biến đổi khí hậu. Nâng cao chất lượng, hiệu quả xây dựng nông thôn mới, cải thiện nhanh hơn đời sống của nông dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường vùng ĐBSCL.

- Tập trung xử lý các yếu tố nội tại, cùng với sử dụng hiệu quả tài nguyên, nguồn nhân lực, khoa học công nghệ, biến nguy cơ thành thời cơ. Phát triển nông nghiệp ĐBSCL bền vững theo 3 vùng (vùng thượng, vùng giữa và vùng ven biển). Dựa trên biến động về nguồn nước, tính thích nghi về đất đai và nhu cầu thị trường, các ngành hàng chiến lược được phân thành vùng ổn định, vùng chuyển đổi và vùng linh hoạt[8]. Cơ cấu lại sản xuất theo 3 trục sản phẩm (nhóm sản phẩm chủ lực quốc gia; nhóm sản phẩm chủ lực cấp tỉnh; nhóm sản phẩm địa phương - Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm”). Xoay trục chiến lược sang thủy sản - trái cây - lúa gạo. Phát triển ĐBSCL thành vùng du lịch nông nghiệp, sinh thái đặc thù.

- Ưu tiên tạo đột phá trong phát triển chế biến và thương mại hóa chuỗi giá trị nông nghiệp và nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ để giải quyết ba khâu là giống, thức ăn và chế biến NLTS. Đến năm 2025, xác định được bộ giống tốt nhất cho 3 ngành hàng chủ lực (thủy sản, trái cây, lúa); đến năm 2030, làm chủ nguồn giống trong nước và vươn tầm quốc tế. Tăng cường thâm canh bền vững, giảm tối đa sử dụng vật tư (phân hóa học, thuốc BVTV), bảo vệ môi trường, đảm bảo vệ sinh ATTP. Phát triển các trung tâm hỗ trợ kỹ thuật cho vùng chuyên canh, các cụm/khu công nghiệp chế biến, các hệ thống thương mại hậu cần, chuỗi bảo quản lạnh để kết nối thị trường.  

 - Quy hoạch tích hợp, đa ngành, lĩnh vực, thực hiện đồng bộ các giải pháp “không hối tiếc” có điều phối liên vùng, liên kết ngành, lĩnh vực với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị toàn vùng. Huy động nguồn lực tổng thể của nhà nước, các thành phần kinh tế, toàn dân, hợp tác quốc tế.

b) Định hướng các vùng: (1) Vùng thượng: Phát triển nông nghiệp đa dạng, có tính đến thích ứng với lũ cực đoan; là vùng trọng điểm về sản xuất lúa và cá tra theo hướng hiện đại, bền vững. Vùng đóng vai trò điều tiết và hấp thụ lũ cho ĐBSCL. (2) Vùng giữa: Phát triển nông nghiệp miệt vườn điển hình, là trung tâm chuyên canh trái cây lớn nhất ĐBSCL và cả nước. Bên cạnh đó, phát triển một số vùng lúa gạo tập trung, thủy sản nước ngọt, rau màu, cây công nghiệp và thủy sản nước lợ ở mức độ vừa phải. Vùng đóng vai trò điều tiết nước ngọt cho vùng ven biển. (3) Vùng ven biển: Phát triển nông nghiệp dựa chính vào nước mặn và lợ, phát huy lợi thế thủy sản; kết hợp vùng lúa gạo đặc sản, các cây trồng sử dụng ít nước ngọt và chịu mặn. Vùng có diện tích rừng lớn nhất nên cần tận dụng để phát triển hệ thống nông - lâm kết hợp theo hướng sinh thái, hữu cơ, kết hợp du lịch sinh thái. Đảm bảo đủ nước ngọt cho sinh hoạt. Chuẩn bị sẵn sàng phòng chống, ứng phó, giảm nhẹ thiệt hại thiên tai, sạt lở bờ biển.

c) Định hướng các lĩnh vực, ngành hàng chiến lược, chủ lực:

(1) Lúa gạo: Không cứng nhắc duy trì sản xuất lúa và xuất khẩu gạo số lượng lớn, chỉ giữ ở mức tối thiểu có chất lượng và lợi nhuận tốt để giữ thị trường truyền thống, phát triển thị trường tiềm năng, khai thác tốt thị trường trong nước. Đến năm 2030, tại ĐBSCL, diện tích canh tác lúa dự kiến giảm 220 - 300 nghìn ha đi cùng với giảm diện tích lúa 3 vụ, chuyển đổi mạnh sang lúa 1, 2 vụ hoặc luân canh với cây màu/thủy sản. Tăng các nhóm giống lúa xác nhận, chất lượng cao, chống chịu tốt hơn với hạn mặn. Cơ giới hóa đồng bộ các khâu sản xuất, ứng dụng KHCN giảm tối đa chi phí sản xuất, vật tư nông nghiệp.

 (2) Trái cây: Phát triển theo nhu cầu thị trường, hướng tới thị trường trong và ngoài nước giá trị cao, với 10 loại trái cây như xoài, cam, quýt, bưởi, nhãn, vải, thanh long, chuối, sầu riêng, chôm chôm. Đến 2030, mở rộng diện tích tập trung thêm khoảng 200 nghìn ha, đưa tổng diện tích trái cây lên khoảng 680 nghìn ha. Thúc đẩy cải tạo vườn tạp trái cây và dừa, đa dạng hóa hệ thống canh tác[9], nghiên cứu làm chủ nguồn giống các loại chủ lực, nhất là giống chịu mặn.

  (3) Thủy sản:

          - Nuôi trồng: Phát triển ngành tôm và cá tra trở thành ngành công nghiệp sản xuất lớn, bền vững, thích ứng với BĐKH và bảo vệ môi trường sinh thái, hướng mạnh ra xuất khẩu. Đến năm 2030, tổng diện tích nuôi trồng tăng thêm khoảng 300 nghìn ha, đưa tổng diện tích nuôi trồng lên khoảng 1 triệu ha (bao gồm cả diện tích luân canh với lúa và tôm, rừng sinh thái). Đầu tư mạnh cho chế biến sâu, đa dạng hóa các sản phẩm chế biến thủy sản. Chủ động sản xuất và cung cấp đủ giống tôm, cá tra chất lượng cao cho thị trường.

          - Khai thác: Cơ cấu lại theo hướng phát triển các tổ đội công suất lớn, hợp tác xã, đồng quản lý và quản lý dựa vào cộng đồng với hệ thống tàu hậu cần, công nghiệp phụ trợ, các cảng cá, bến cá, các khu neo đậu tránh trú bão, các khu dịch vụ hậu cần ven biển và trên các đảo, nhằm khai thác các ngư trường lớn ở biển Tây và biển Đông; hợp tác khai thác trên các vùng biển chung phù hợp luật pháp quốc tế. Duy trì các nghề khai thác thủy sản nội địa hợp lý. Khai thác bền vững, vừa thu hoạch vừa bảo vệ, tái tạo, phát triển nguồn lợi và theo các đội tàu có tổ chức chuyên nghiệp, hiện đại phù hợp với các vùng biển, tuyến biển. Chống đánh bắt bất hợp pháp, hủy diệt nguồn lợi. Ứng dụng khoa học công nghệ trong khai thác thủy sản, bảo quản sản phẩm để giảm tổn thất sau thu hoạch.

(4) Chăn nuôi: Phát triển chăn nuôi bền vững, an toàn sinh học, gắn với thị trường, thích ứng với BĐKH. Chuyển nhanh sang chăn nuôi tập trung ngoài khu dân cư; ứng dụng KHCN; tổ chức sản xuất khép kín, liên kết chuỗi với hệ thống giết mổ tập trung, nhà máy chế biến, nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi; tăng cường kiểm soát dịch bệnh, chất lượng và giá cả thức ăn, thuốc thú y, xử lý môi trường. Tại vùng thượng, tập trung vào các sản phẩm gia cầm, thủy cầm thích ứng lũ. Tại vùng giữa, phát triển chăn nuôi bò, lợn, đồng thời kết hợp trong các hệ thống canh tác khác, như nuôi gia cầm thả vườn trong vườn trái cây. Tại vùng ven biển, đẩy mạnh phát triển chăn nuôi vịt biển, các loại vật nuôi sử dụng ít nước nhưng có giá trị cao như ong, chim yến…, kết hợp chăn thả dưới tán rừng (dê) theo hướng sinh thái, hữu cơ. Phát triển các sản phẩm chế biến sâu hướng đến xuất khẩu (vịt sinh thái, trứng muối, chim yến…).

(5) Lâm nghiệp: Coi phục hồi và phát triển rừng là nhiệm vụ trọng tâm, điều kiện tiên quyết đối với sự tồn tại và phát triển bền vững của toàn vùng. Kết hợp hài hòa giữa bảo vệ rừng tràm, rừng ngập mặn với phát triển các sinh kế từ rừng, đặc biệt là thủy sản sinh thái dưới tán rừng (tôm, cua, cá) và du lịch sinh thái. Phát triển các mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng.  

(6) Du lịch sinh thái: Phát triển hệ sinh thái nông nghiệp làm nền tảng cho phát triển du lịch, gắn với bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn ven biển, bảo tồn đa dạng sinh học. Thu hút đầu tư để phát triển dịch vụ hỗ trợ. Đào tạo nghề dịch vụ du lịch, góp phần chuyển đổi nghề bền vững cho lao động nông thôn.

(7) Thủy lợi và phòng chống thiên tai

  - Vùng thượng: Tăng khả năng hấp thu lũ, thoát lũ, ứng phó với các đợt lũ cực đoan; giảm thiểu ngập úng đô thị, giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong các khu đê bao triệt để, phòng chống sạt lở bờ sông. Hạn chế phát triển đê bao triệt để, thay vào đó gia cố hệ thống đê bao tháng 8, nạo vét kênh mương, tăng khả năng chủ động lấy nước và tiêu thoát ở các vùng đê tháng 8 để tạo điều kiện linh hoạt trữ và điều tiết lũ; đồng thời hỗ trợ sản xuất, phát triển các sinh kế khác ngoài 2 vụ lúa. Nghiên cứu tạo không gian thoát lũ ở Đồng Tháp Mười[10]; Tứ giác Long Xuyên[11], thiết kế cao trình phù hợp của các công trình ở không gian thoát lũ. Các đường giao thông vượt lũ phải đảm bảo khẩu độ thoát lũ.

  - Vùng giữa: Hạn chế phát triển thêm các hệ thống đê bao; nạo vét, nâng cấp các kênh nối sông Tiền với sông Hậu, nhằm tăng khả năng thoát lũ, phân phối lại tỷ lệ dòng chảy sông Mê Kông. Bảo vệ cục bộ các khu vực đô thị và nông thôn, nâng cấp và xây dựng các hệ thống chống ngập tăng khả năng tiêu thoát nước, kết hợp với dự trữ nước để cung cấp nước sinh hoạt cho vùng ven biển. Điều chỉnh hệ thống thủy lợi phù hợp cho rau màu, cây ăn trái và nuôi trồng thủy sản nước ngọt.

  - Vùng ven biển: Đảm bảo khả năng điều tiết chủ động để cấp ngọt và mặn phục vụ nuôi trồng thủy sản mặn, lợ, cấp nước sinh hoạt; hạn chế tối đa sử dụng nước ngầm, phòng tránh sụt lún và sạt lở bờ biển. Theo đó, xem xét phương án xây dựng các công trình trữ nước và dẫn nước ngọt từ sông Hậu cho bán đảo Cà Mau kết hợp giảm thâm canh lúa và chuyển đổi cơ cấu sản xuất phù hợp.

(8) Phát triển nông thôn: Phát triển các mô hình xây dựng nông thôn mới gắn với ổn định đời sống dân cư, di dân ra khỏi các vùng nhạy cảm về môi trường, chuyển đổi nông nghiệp, giảm nhẹ rủi ro thiên tai, thích ứng với BĐKH, phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của người dân và cộng đồng. Giảm lao động trong nông nghiệp, nhưng chuyên nghiệp hóa, trẻ hóa thích ứng với sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Tạo việc làm phi nông nghiệp tại chỗ theo Chương trình OCOP và phát triển công nghiệp, dịch vụ phục vụ nông nghiệp; tạo việc làm phi nông nghiệp ngoài vùng và xuất khẩu lao động gắn với nhu cầu thị trường.

3. Các giải pháp chủ yếu

          (1) Rà soát và điều chỉnh các quy hoạch vùng và tỉnh ĐBSCL theo hướng tích hợp đa ngành, gắn kết chặt chẽ phát triển nông nghiệp và phát triển chung về kinh tế, xã hội, phát triển công nghiệp, dịch vụ nông thôn, giao thông, đô thị, dân cư và các lĩnh vực liên quan.

          (2) Huy động nguồn lực tổng hợp đầu tư cho phát triển nông nghiệp bền vững thích ứng với BĐKH, trong đó ngân sách Trung ương ưu tiên đầu tư vào cơ sở hạ tầng cấp tiểu vùng và vùng, ngân sách địa phương cho CSHT cấp tỉnh và thu hút đầu tư tư nhân theo hình thức PPP, đặc biệt với cụm ngành nông nghiệp -công nghiệp - dịch vụ và hệ thống logistics cho chuỗi giá trị nông nghiệp.

          (3) Đổi mới tổ chức sản xuất và phát triển chuỗi giá trị: (i) Hình thành cơ quan điều phối ngành hàng vùng; (ii) Xây dựng lực lượng chuyên trách hỗ trợ thành lập các HTX, phát triển các HTX hoạt động hiệu quả, kiện toàn các hiệp hội/doanh nghiệp; (iii) Xây dựng Chương trình thu hút đầu tư phát triển chuỗi, Chương trình thông tin dự báo và phát triển thị trường; (iv) Thực hiện hiệu quả Chương trình OCOP; (v) Tăng cường quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng.

          (4) Tăng cường ứng dụng, chuyển giao KHCN: (i) Phát triển các Viện nghiên cứu của vùng đủ mạnh về nguồn lực; (ii) Chương trình nghiên cứu giống, tập trung vào thủy sản, trái cây chủ lực, lúa chất lượng cao; (iii) Chương trình thúc đẩy nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao KHCN; (iv) Thí điểm và nhân rộng các mô hình nông nghiệp thông minh thích ứng với BDKH; (v) Xây dựng Trung tâm tích hợp cơ sở dữ liệu (CSDL) nông nghiệp, nông thôn của vùng.

          (5) Nâng cao năng lực quản lý tài nguyên và môi trường: (i) Xây dựng CSDL và hệ thống quan trắc, thông tin trực quan hỗ trợ điều hành, phối hợp vận hành các hệ thống thủy lợi điều tiết lũ và mặn một cách tối ưu và thuận thiên; (ii) Xây dựng các đề án/phương án ứng phó với lũ cực đoan, hấp thu lũ, thoát lũ; xử lý ô nhiễm nước mặt, tái tạo nguồn nước ngầm; cấp nước ngọt; bảo vệ và phát triển rừng; quản lý hệ thống cung ứng vật tư nông nghiệp; (iii) Cung cấp dịch vụ thông tin cảnh báo sớm và tư vấn nông nghiệp; (iv) Xây dựng và áp dụng Bộ quy tắc ứng xử chung cho sản xuất nông nghiệp thích ứng với BĐKH toàn vùng.

          (6) Phát triển nguồn nhân lực: (i) Xây dựng Chương trình đào tạo nông dân chuyên nghiệp, chuyển đổi lao động nông nghiệp và tạo việc làm; (ii) Xây dựng Chương trình thu hút chuyên gia, trí thức trẻ về nông thôn; thúc đẩy mạnh mẽ phong trào khởi nghiệp sáng tạo.

          (7) Xây dựng nông thôn mới: Xây dựng đề án NTM cho ĐBSCL với các tiêu chí đặc thù, nâng cao chất lượng tiêu chí xây dựng nông thôn mới; trong đó chú trọng các nội dung thích ứng với BĐKH, di dân khỏi vùng nhạy cảm với môi trường, phòng chống thiên tai và phát triển cộng đồng. Tiếp tục vận động và đầu tư hỗ trợ thực hiện xây dựng nông thôn mới toàn diện và đi vào chiều sâu, cải thiện trực tiếp điều kiện sinh sống của cư dân nông thôn. Hỗ trợ các nông hộ phát triển sản xuất, kinh doanh để nâng cao thu nhập. Huy động nguồn lực để duy tu, nâng cấp cơ sở hạ tầng cấp xã, nhất là về giao thông, thủy lợi.

          (8) Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù: Để phát triển NN vùng ĐBSCL theo hướng thuận thiên cần thể chế hóa và thực thi cơ chế, chính sách đặc thù: (i) Chuyển đổi diện tích đất lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản, cây ăn quả; (ii) Tích tụ, tập trung đất đai sản xuất nông nghiệp tập trung quy mô lớn, theo mô hình liên kết “cánh đồng lớn” đặc trưng của ĐBSCL; (iii) Thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, nhất là các doanh nghiệp “đầu tàu”; thực hiện miễn, giảm thuế, thúc đẩy tín dụng ưu đãi và triển khai chính sách bảo hiểm nông nghiệp đối với các sản phẩm chủ lực của vùng, nhất là tôm, cá tra.

          (9) Tăng cường liên kết vùng: (i) Thành lập ban điều phối phát triển nông nghiệp từng tiểu vùng, trực thuộc hoặc liên kết chặt với Hội đồng vùng; (ii) Thử nghiệm trước một số mô hình liên kết trong mỗi tiểu vùng và toàn vùng, trước mắt tập trung vào quản lý nguồn nước, phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp (bao gồm cả hệ thống logistics), phát triển thị trường và thu hút đầu tư nông nghiệp; (iii) Xây dựng hệ thống thông tin điều hành vùng.

          (10) Tăng cường hợp tác quốc tế chia sẻ thông tin, tranh thủ sự hỗ trợ về kinh nghiệm, công nghệ, kỹ thuật, quản trị; tăng cường điều phối liên ngành, liên vùng trong huy động nguồn lực quốc tế hỗ trợ phát triển nông nghiệp ĐBSCL./.

 

                                                                                                BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NO

 


[1] KNXK các nông sản chủ lực ĐBSCL (gạo, cá tra, tôm, trái cây) đạt 8,43 tỷ USD, chiếm 43,2% KNXK các mặt hàng nông sản chính cả nước và chiếm 21,07% tổng kim ngạch xuất khẩu NLTS cả nước.

[2]Chuyển từ lúa sang cây trồng cạn; chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, thu hẹp lúa Xuân Hè và tăng vụ Thu Đông; 41 bộ giống lúa sản xuất thử, trong đó nhiều giống ngắn ngày, giúp né mặn, tránh lũ, chịu phèn, chịu mặn; quy trình ‘Ba giảm, ba tăng’, ‘một phải năm giảm’, VietGAP, GlobalGAP...; cánh đồng lớn; NTTS hữu cơ, thâm canh khép kín; chăn nuôi vịt biển, chim yến, ong…

[3] Trong đó chủ yếu do tăng trưởng trong diện tích nuôi tôm từ 607,3 nghìn ha lên 679,2 nghìn ha; tương ứng tỷ trọng giá trị sản xuất tôm trong tổng giá trị sản xuất NLTS tăng từ 12,6% lên 16,9%.

[4] Phát triển, nhân rộng các quy trình SX chất lượng cao, an toàn, hữu cơ, như ‘Ba giảm, ba tăng’, ‘một phải năm giảm’, ‘một phải sáu giảm’, xuống giống “tập trung né rầy”, giảm lượng giống gieo sạ, bón phân theo chuyên vùng, tưới nước tiết kiệm… Chương trình rải vụ đối với 5 loại trái cây chủ lực (xoài, thanh long, nhãn, chôm chôm, sầu riêng) thu được kết quả tốt.

[5]QĐ 245/QĐ-BNN-CBTTNS ngày 16/01/2019 về kế hoạch cơ cấu lại lĩnh vực chế biến đến 2020; TT 37/2018/TT-BNN ngày 25/12/2018 về danh mục sản phẩm NN chủ lực quốc gia; QĐ 738/QĐ-BNN-KHCN ngày 14/3/2017 về tiêu chí xác định chương trình, dự án NN CNC; NĐ 57/2018/NĐ-CP ngày 17/04/2018 khuyến khích đầu tư vào NNNT; NĐ 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 về tín dụng phục vụ phát triển NNNT; NĐ 98/2018/NĐ-CP ngày 5/7/2018 khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm NN; NĐ 109/2018/NĐ-CP ngày 29/8/2018 về NN hữu cơ; QĐ 461/QĐ-TTg 2018 ngày 27/04/2018 về Đề án phát triển 15.000 HTX, liên hiệp HTX NN đến 2020; NĐ 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 về bảo hiểm NN; NĐ 107/2018/NĐ-CP ngày 15/8/2018 về kinh doanh xuất khẩu gạo; Luật Chăn nuôi 2018; Luật Trồng trọt 2018.

[6]Nhu cầu gạo giảm và nhu cầu trái cây, thủy sản tăng.Tổng giao dịch thương mại gạo toàn cầu chỉ tăng khoảng 1,5% (2016-2024) (OECD/FAO, 2015). Giá gạo VN giảm 10% xuống 380 USD/tấn (2014 – 2025) (WB, 2016). Thị trường trái cây thế giới đạt 200 tỷ USD năm 2030 (Oliver Wynman, 2018), nhu cầu trái cây VN tăng từ 5 triệu tấn lên 7 triệu tấn (2009 – 2030) (WB, 2016), nguồn cung chưa đáp ứng. Nhu cầu tôm toàn cầu khoảng 5,25 triệu tấn (thiếu hụt khoảng 1,03 triệu tấn) (FAO, UNDP, 2015). Thị trường cá tra cũng còn nhiều tiềm năng, nhất là các thị trường mới nổi như châu Á, Nam Mỹ và châu Phi.

[7]ICEM/WB 2016

[8]Vùng ổn định là vùng có độ an toàn từ 70% trở lên trước tác động của lũ, ngập và xâm nhập mặn và có thị trường; (ii) vùng chuyển đổi là vùng sản xuất nguy cơ cao, có độ an toàn 30% trước tác động của lũ, ngập và xâm nhập mặn và nhu cầu thị trường; (iii) vùng linh hoạt là vùng chưa có đủ thông tin về tác động của hạn mặn, tình trạng úng ngập và khả năng cấp ngọt.

[9]Kết hợp các loại cây trồng dưới tán (xoài-cây cảnh, dừa-ca cao, dừa/cây ăn trái-màu,…), chăn nuôi thả vườn (gà, vịt,…), thả cá dưới líp, du lịch sinh thái miệt vườn

[10]Vùng kênh 79, phước Xuyên-79 và từ Bình Thành tới sông Tiền

[11]Từ kênh T6 đến T3, vùng ven kênh Trà Sư) và vùng Bắc kênh Vĩnh An từ kênh 5 Xã đến sông Bassac


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan