Chủ nhật, 14/08/2022 - 20:11
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Phát triển kinh tế hợp tác và liên kết chuỗi giá trị để chuyển đổi nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Tham luận của Cục Kinh tế Hợp tác và Phát triển nông thôn

1. Thách thức đối với sự phát triển nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu long (ĐBSCL)

Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích 39.725km2 (chiếm 12% diện tích tự nhiên của cả nước), với trên 2,4 triệu héc-ta đất canh tác nông nghiệp và gần 700 nghìn héc-ta đất nuôi trồng thủy sản. Tổng dân số ước tính khoảng 20,0 triệu người (chiếm 22% dân số cả nước), đóng góp 17% GDP cả nước, trong đó: 40% giá trị sản xuất nông nghiệp, trên 50% sản lượng lúa cả nước, 90% sản lượng gạo; 65% sản lượng thủy sản, 70% sản lượng trái cây xuất khẩu ra nước ngoài. Riêng kim ngạch xuất khẩu nông sản của ĐBSCL chiếm hơn 34% tổng kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp của cả nước.

Tuy nhiên ĐBSCL đang phải đối mặt với 2 thách thức lớn đó là: Những tác động xấu của BĐKH và sự cạnh tranh nông sản khốc liệt trong hội nhập kinh tế quốc tế, đe dọa đến sự phát triển bền vững của Đồng bằng. Biến đổi khí hậu đang làm gia tăng xâm ngập mặn; gia tăng hạn hán, thiếu nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt (nhất là trong mùa khô); Nước biển dâng gây ngập úng, sạt lở các vùng ven bờ; gia tăng hiện tượng thời tiết cực đoan mưa, giông, bão, lũ… dẫn đến những hệ quả như: Gia tăng rủi ro cho sản xuất nông nghiệp; Đất đai thoái hóa; Làm chi phí sản xuất nông nghiệp; Gây ra tình trạng thiếu nước ngọt, ảnh hưởng bất lợi đến sản xuất nông; Gây tổn thương nặng nề cho người dân, và thúc đẩy quá trình di cư của cưu dân ở các vùng chịu tác động nặng nề do BĐKH làm phá vỡ quy hoạch, trật tự xã hội và môi trường.

Ở khía cạnh tổ chức nông dân và liên kết chuỗi giá trị: Do thiếu tổ chức nông dân (THT, HTX), liên kết chuỗi giá trị lỏng lẻo khiến cho kế hoạch sản xuất và tiêu thụ không gặp được nhau, tình trạng dồn ứ sản phẩm khi trúng mùa vẫn xảy ra. Chi phí sản xuất tăng, đặc biệt là việc kiểm soát chất lượng sản phẩm gặp nhiều khó khăn nên chất lượng sản phẩm chưa cao. Đây là nguyên nhân khiến năng lực cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp bị giảm sút.  

2. Vai trò của hợp tác xã trong phát triển chuỗi giá trị nông sản và ứng phó với BĐKH vùng ĐBSCL.

a) Thực trạng phát triển kinh tế hợp tác trong nông nghiệp

Trong 02 năm qua, số lượng HTX nông nghiệp của toàn vùng ĐBSCL tăng nhanh. Đến hết năm 2018, toàn vùng ĐBSCL có 1.803 HTX nông nghiệp, chiếm 13% tổng số HTX nông nghiệp của cả nước. Từ 2016 đến nay, đây là một trong 3 vùng có số lượng các HTX nông nghiệp thành lập mới cao nhất cả nước (sau Miền núi phía bắc, Đồng bằng sông Hồng và ĐBSCL), với số lượng tăng thêm 552 HTX trong 2 năm. Các HTX nông nghiệp của cả vùng ĐBSCL có trên 230.000 thành viên, chiếm khoảng 15% số hộ sản xuất của toàn vùng. Trung bình mỗi HTX nông nghiệp có 130 thành viên và tổng diện tích sản xuất của các thành viên trong mỗi HTX trung bình là 160 ha, tăng gấp đôi cả về quy mô hộ và quy mô đất so với trước năm 2016.

Ngoài các HTX, vùng ĐBSCL có 11.775 tổ hợp tác với 260,573 thành viên. Trong đó tổ hợp tác trong lĩnh vực trồng trọt chiếm 46,07%.

 Vùng ĐBSCL cũng có diện tích thực hiện liên kết lớn nhất là 450.000 ha. Có 71,1% tổng số xã có mô hình liên kết hiệu quả trong nông nghiệp đạt Tiêu chí số 13 nông thôn mới.

b) Vai trò của kinh tế hợp tác trong ứng phó với biến đổi khí hậu

Theo ước tính của Cục KTHT và Phát triển nông thôn, tại ĐBSCL có ít nhất 1/3 trong tổng số 1.800 HTXNN hiện nay đã tổ chức thực hiện được một số hoạt động phục vụ và giúp các thành viên của mình ứng phó và hạn chế được một phần những tác động xấu của BĐKH gây ra, cụ thể:

- Ứng dụng nhiều công nghệ, kỹ thuật nuôi trồng thích ứng với biến đổi khí hậu như:

+ Tiến bộ về kỹ thuật canh tác đã được chuyển giao đến người sản xuất, đặc biệt là các kỹ thuật và quy trình sản xuất chất lượng cao, an toàn, hữu cơ, thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu như: Sử dụng giống chịu mặn cao, quy trình canh tác “Ba giảm, ba tăng”, “một phải năm giảm”, quản lý cây trồng tổng hợp (ICM), quản lý dịch bệnh tổng hợp (EPM), hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI), làm đất tối thiểu, che phủ bằng thảm thực vật….

+ Áp dụng các quy trình, biện pháp canh tác như bố trí lại thời vụ nuôi trồng; xuống giống “tập trung né rầy”; canh tác khô/ngập để giảm phát thải khí nhà kính; tưới xem kẽ để chống thoái hóa đất; tưới tiên tiến, tiết kiệm nước, tăng cường sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hữu cơ.

+ Ứng dụng cơ giới hóa, công nghệ thông minh, 4.0 vào sản xuất (thông qua hệ thống cảm biến, sử dụng năng lượng mặt trời, công nghệ trong quan trắc và tự động tưới ở một số vùng ở các tỉnh Đồng Tháp, Trà Vinh).

+ Áp dụng ngày càng rộng rãi các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP; SRP ASC trong sản xuất nông, lâm thủy sản ở ĐBSCL.

+Tận dụng phụ phẩm trong nông nghiệp như rơm rạ, tro, trấu để sản xuất, chế biến ra phân bón, năng lượng và các sản phẩm có giá trị khác.

- Hỗ trợ chuyển giao, sử dụng trong nuôi trồng nhiều loại vật tư thân thiện, thích ứng với biến đổi khí hậu như các loại phân bón chống phát thải, giảm thiểu khí nhà kính; sử dụng phân bón dúi tan chậm một lần trong cả vụ gieo trồng. Việc dần dần thay thế phân vô cơ bằng phân vi sinh đã tạo ra môi trường canh tác thân thiện. Nhờ đó các sản phẩm nông nghiệp có nguồn gốc tự nhiên dần được khôi phục. Trong thủy sản, việc dùng vi sinh để cải tạo vùng nuôi, hướng tới sản xuất các sản phẩm hữu cơ cả lúa và tôm.

- Các HTX, THT tham gia điều tiết kế hoạch sản xuất, điều chỉnh lịch thời vụ phù hợp để nâng cao hiệu quả nuôi trồng; thông qua các dịch vụ để hỗ trợ phát triển canh tác tôm - lúa ở khu vực nước lợ, 6 tháng mặn, 6 tháng ngọt; hướng dẫn đào tạo, hỗ trợ nông dân chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng vật nuôi thích ứng với biến đổi khí hậu.

- Các HTX, THT liên kết với các doanh nghiệp chế biến thu mua sản phẩm của thành viên và nông dân trên địa bàn theo chuỗi giá trị: Trong các ngành hàng đều có những mô hình tổ chức sản xuất và liên kết chuỗi giá trị hiệu quả như HTX Tân Thuận Tây (tỉnh Đồng Tháp) liên kết với Công ty Long Uyên để cung ứng - tiêu thụ xoài; HTX Bình Hòa Phước (tỉnh Vĩnh Long) liên kết với Công ty rau quả Mê Kông để cung ứng - tiêu thụ chôm chôm, HTX Hòa Lộc liên kết cung ứng - tiêu thụ xoài với một số công ty ở TP. Hồ Chí Minh…. Sản phẩm trái cây của các HTX có liên kết với các doanh nghiệp được sản xuất theo quy trình VietGAP, GlobalGAP,….

c) Đánh giá chung

- Kết quả đạt được

+ Hoạt động của các HTX, THT trong nông nghiệp đã hỗ trợ kinh tế hộ phát triển, nâng cao thu nhập, tạo thêm công ăn việc làm cho thành viên;

+ Xuất hiện nhiều mô hình HTX, THT hoạt động đa dạng, hiệu quả trong tất cả các lĩnh vực, trong đó có các mô hình HTX, THT tổ chức nông dân ứng phó với biến đổi khí hậu hiệu quả;

+ Số lượng thành viên và quy mô đất sản xuất của các HTX tăng lên. Nhiều HTX đang tiếp tục mở rộng quy mô lên đến hàng trăm thành viên và hàng ngàn ha đất sản xuất nông nghiệp (như HTX Rạch lọp - Trà Vinh; HTX Thanh Bình, Tân Cường; Mỹ Đông 2 ở Đồng Tháp; HTX Vĩnh Cường - Bạc liêu);

+ Nhiều HTX, THT phát huy vai trò liên kết tiêu thụ nông sản, thu hút và được các doanh nghiệp có tiềm năng về vốn, kỹ thuật và thị trường tin tưởng, hình thành các chuỗi giá trị sản phẩm an toàn;

+ Bên cạnh đó, các HTX, THT còn đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn và nâng cao tình đoàn kết, tương thân, tương ái ở nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội ở các địa phương.

- Khó khăn, tồn tại

+ Năng lực cán bộ quản lý yếu, thiếu các hiểu biết về pháp luật, về kinh doanh và thị trường; thiếu vốn đầu tư; loại hình dịch vụ ít, chủ yếu là dịch vụ đầu vào.

+ Quy mô sản xuất ở nhiều vùng còn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển nhất là trong điều kiện ứng phó với biến đổi khí hậu.

+ Các mô hình HTX thích ứng với biến đổi khí hậu đã dần hình thành nhưng còn tự phát, nhỏ lẻ, manh mún, chưa có cơ sở về khoa học, kỹ thuật và thị trường cũng như động lực và hỗ trợ đủ mạnh để nhân rộng.

+ Sự hỗ trợ đầu tư của Nhà nước còn ít, nhất là cơ sơ hạ tầng. Đặc biệt Quyết định số 445/QĐ-TTg chưa có nguồn hỗ trợ đối với một số nhu cầu thiết yếu của HTX.

c) Nguyên nhân của các tồn tại

- HTX và thành viên thiếu thông tin và kỹ năng thích ứng với BĐKH. Một số “sáng kiến ứng phó với BĐKH” của người dân tuy tốt nhưng không được tổng kết, nhân rộng.

- Năng lực nội tại của các HTX, THT hạn chế, thiếu trang thiết bị, hạ tầng phục vụ sản xuất. Nhiều HTX, THT ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của nhà nước.

- Một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa quan tâm đầy đủ tới sự phát triển của khu vực kinh tế hợp tác trong nông nghiệp.

- Thiếu đội ngũ tư vấn, hỗ trợ xây dựng phát triển HTX kiểu mới nhất là hỗ trợ người dân phát huy sáng kiến và hợp tác cùng nhau để thích ứng với BĐKH.

- Các chính sách hỗ trợ cho HTX thiếu nguồn lực để thực hiện nhất là nguồn lực hỗ trợ xây dựng hạ tầng, mua sắm máy móc nhằm ứng phó với BĐKH.

3. Quan điểm phát triển kinh tế hợp tác và liên kết chuỗi giá trị thích ứng với biến đổi khí hậu.

a) Quan điểm

Trên quan điểm phát triển nông nghiệp bên vững vùng vùng ĐBSCL được ghi trong Nghị quyết số 120/NQ-CP, ngày 17-11-2017 của Chính phủ là: “Thay đổi tư duy phát triển, chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp thuần túy, chủ yếu là sản xuất lúa sang tư duy phát triển kinh tế nông nghiệp đa dạng, đáp ứng nhu cầu của thị trường, chuyển từ phát triển theo số lượng sang chất lượng; xây dựng nông thôn mới gắn với phát triển mạnh mẽ nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp sạch gắn với chuỗi giá trị và xây dựng thương hiệu; chú trọng phát triển công nghiệp chế biến và công nghiệp hỗ trợ gắn với phát triển kinh tế nông nghiệp...”, quan điểm củng cố và phát triển HTX nông nghiệp ở ĐBSCL như sau:

- Thúc đẩy sự phát triển bền vững, đúng bản chất các hình thức kinh tế hợp tác trong nông nghiệp tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long;

- Mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao năng lực sản xuát kinh doanh của HTX, THT đáp ứng nhu cầu thị trường cả về số lượng và chất lượng sản phẩm.

- Xây dựng các chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp quản trị hiện đại đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế, phát huy tốt vai trò của kinh tế hợp tác tham gia chuỗi và ứng phó với biến đổi khí hậu;

b) Các hoạt động của HTX, THT trong nông nghiệp ứng phó với BĐKH

- Tổ chức lập kế hoạch tập thể, đào tạo, chia sẻ kinh nghiệm và tiếp nhận sáng kiến của người dân về ứng phó với BĐKH.

- Bố trí lại mùa vụ, cơ cấu cây trồng, lựa chọn và cung ứng vật tư, phân bón, cây con giống thích hợp với điều kiện BĐKH.

- Tổ chức xuống giống cùng trà, cùng thời điểm

- Áp dụng các gói kỹ thuật “3G3T”, “1P5G”, quy trình canh tác GAP, quy trình hữu cơ (VietGAP; GlobalGAP).

- Dịch vụ tưới tiêu và quản lý đê bao, bờ vùng, bờ thửa

- Hỗ trợ thành viên tham gia chuỗi giá trị nông sản: HTX, THT là mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị nhằm tổ chức nông dân thống nhất quy trình sản xuất, truy suất nguồn gốc, kiểm soát chất lượng, thu hoạch, sơ chế và làm đầu mối liên kết tiêu thụ sản phẩm.

- Ứng dụng công nghệ tin học và cung cấp thông tin về thị trường và thông tin liên quan đến thời tiết, khí hậu, thông tin điều hành sản xuất.

- Tổ chức quan trắc, đo đạc và thu thập dữ liệu về ngập nước, tình trạng xâm nhập mặn, dinh dưỡng đất, sâu hại và vận hành hệ thống thủy lợi và thực hành tưới nước xen kẽ khô – ngập nhằm giảm thiểu phát thải khi nhà kính, nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất lúa.

4. Giải pháp phát triển kinh tế hợp tác và liên kết trong nông nghiệp ứng phó với biến đổi khí hậu

a) Đẩy mạnh triển khai các chương trình, đề án và cơ chế, chính sách đã được ban hành, cụ thể: Đề án phát triển 15.000 HTX nông nghiệp hoat động hiệu quả đến năm 2020 (trong đó lưu ý các kế hoạch hỗ trợ phát triển liên kết HTX với các doanh nghiệp; phát triển HTX ứng dụng công nghệ cao và Chương trình thí điểm củng cố các HTX theo Quyết định 445/QĐ-TTg); Nghị định số 98/2018/NĐ-CP về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; Nghị định 59/2018/NĐ-CP về Bảo hiểm nông nghiệp.

Ưu tiên mở rộng tín dụng và đẩy mạnh cho vay theo chuỗi giá trị cho hộ nông dân, HTX nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thân thiện với môi trường; triển khai thực hiện bảo hiểm nông nghiệp; xây dựng chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế nhập khẩu đối với các dự án đầu tư vào nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thân thiện với môi trường; xây dựng chính sách hỗ trợ cơ giới hóa và giảm tổn thất sau thu hoạch.

b) Nâng cao trình độ cán bộ HTX trong nông nghiệp: Thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ HTX; tập trung nguồn lực cho công tác đào tạo nghề cho HTX; bổ sung công tác đào tạo, bồi dưỡng về biến đổi khí hậu; hỗ trợ khởi nghiệp ở các HTX nông nghiệp; mở rộng thí điểm thu hút cán bộ trẻ tốt nghiệp đại học, cao đẳng về làm việc ở các HTX nông nghiệp; tiếp tục thí điểm đưa cán bộ HTX đi nước ngoài.

Quan tâm đến việc củng cố tổ chức, nâng cao năng lực cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế hợp tác trong nông nghiệp. Thí điểm xây dựng các nhóm tư vấn phát triển HTX tại mỗi địa phương với sự hỗ trợ của các Viện, trường có uy tín.

c) Hỗ trợ thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị thông qua các hoat động tuyên truyền quảng bá mô hình hiệu quả; tổ chức làm cầu nối để HTX, THT và doanh nghiệp liên kết với nhau; phát triển các mô hình HTX, THT liên kết với doanh nghiệp theo các chuỗi giá trị nông sản chủ lực theo quy định Nghị định 98/2018/NĐ-CP của Chính phủ tại các địa phương.

d) Phát triển và chuyển giao khoa học công nghệ, quy trình kỹ thuật nuôi trồng phù hợp; phát huy sáng kiến của nông dân, cộng đồng trong ứng phó biến đổi khí hậu; thí điểm và nhân rộng các mô hình: (i) lúa xen canh tôm càng xanh, sen, cá… hoặc luân canh màu ở các vùng lúa ổn định 2 vụ; (ii) vườn cây ăn trái kết hợp các loại cây trồng khác, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản (cá, tôm càng xanh,…);

đ) Các dịa phương chịu ảnh hưởng cao của BĐKH, đề nghị lập kế hoạch ứng phó BĐKH vào trong kế hoạch thực hiện chương trình nông thôn mới. Hỗ trợ, hướng dẫn để các HTX, THT nông nghiệp chủ động lập kế hoạch ứng phó với BĐKH song song với lập kế hoạch sản xuất, kinh doanh ở HTX, THT.

e) Xây dựng các Dự án, Đề án phù hợp với vùng Đồng bằng sông Cửu Long theo Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ. Trong đó bổ sung nhiệm vụ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về xây dựng Đề án Nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp ứng phó với biến đổi khí hậu

g) Tăng cường hợp tác trao đổi kinh nghiệm quốc tế; kêu gọi các tổ chức quốc tế tham gia hỗ trợ các HTX, thực hiện các dự án hỗ trợ nông dân, HTX ứng phó với biến đổi khí hậu tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Huy động các nguồn lực, tri thức khoa học của các Trường, Viện nghiên cứu.

5. Kiến nghị:

Đề nghị các bộ, ngành Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính tham mưu Chính phủ bổ sung vốn hỗ trợ các HTX xây dựng hạ tầng sản xuất (theo Quyết định số 2261/QĐ-TTg) để đẩy mạnh thực hiện Chương trình thí điểm củng cố và phát triển HTX nông nghiệp vùng ĐBSCL theo Quyết định số 445/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ./.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan