Thứ 2, 04/07/2022 - 13:10
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Các yếu tố ảnh hưởng đến tài nguyên nước ĐBSCL

Có 6 yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến tài nguyên nước Đồng bằng sông Cửu Long.

Một là, ĐBSCL là phần cuối nguồn của sông Mê Công với tổng diện tích trên 3,9 triệu ha, chịu ảnh hưởng của hai chế độ thủy triều biển Đông và biển Tây cùng với hệ thống kênh rạch dày đặc. Vì vậy, khu vực ĐBSCL có chế độ thủy văn - thủy lực rất phức tạp. Ngoài ra, do được hình thành chủ yếu do trầm tích sông biển nên vùng ĐBSCL có địa hình bằng phẳng, phần lớn có cao độ trung bình từ 0,7-1,2 m, ngoại trừ một số đồi núi cao ở An Giang. Do có đặc điểm địa hình, địa mạo như trên, ĐBSCL cũng luôn đối mặt với những vấn đề về: (a) lũ và ngập lụt ở vùng thượng; (b) xâm nhập mặn ở vùng ven biển; (c) đất phèn và sự lan truyền nước chua ở những vùng trũng thấp; (d) thiếu nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt ở những vùng gần biển, những vùng xa nguồn nước ngọt; (đ) xói lở bờ sông, bờ biển xảy ra ở nhiều nơi và ngày càng trở nên nghiêm trọng và (e) ô nhiễm nguồn nước.

Hai là, nguồn nước mặt phân bố không đều theo không gian và thời gian đã dẫn đến xuất hiện các vấn đề khan hiếm và thiếu nước nước trong mùa khô.

Ba là, nguồn nước ĐBSCL phụ thuộc mạnh mẽ vào nguồn nước đến từ thượng nguồn sông Mê Công (chiếm 95% tổng lượng nước của ĐBSCL). Vì vậy, các hoạt động đắp đập, chặn dòng, chuyển nước, mở rộng diện tích tưới, xây dựng và vận hành của các công trình thủy điện ở thượng nguồn lưu vực sông Mê Công đã và đang là nguy cơ trực tiếp làm suy giảm nguồn nước chảy vào Việt Nam. Tính đến cuối năm 2020, Trung Quốc đã hoàn thành và đi vào vận hành 11 công trình thủy điện và có khả năng kiểm soát dòng chảy rất lớn. Chỉ riêng 02 hồ lớn là Tiểu Loan và Nộ Trác Độ đã có dung tích khoảng 38 tỷ m3, trong đó dung tích điều tiết là khoảng 23 tỷ m3. Trên dòng nhánh ở Lào các hồ chứa thủy điện có tổng dung tích điều tiết trên 40 tỷ m3. Theo dự báo, trong tương lai không xa, tổng dung tích của các hồ chứa ở các quốc gia ở thượng nguồn có thể kiểm soát trên 20% tổng lượng nước trung bình hàng năm của sông Mê Công.

Phần trung lưu trên lãnh thổ Lào, Thái Lan và Campuchia đã có 11 dự án thủy điện trên dòng chính được đề xuất xây dựng. Trong đó, Lào dự kiến xây dựng xây dựng 09 công trình (trong đó có 02 công trình đã chính thức đang vận hành là Xay-nha-bu-ly và Đôn-Sa-hông đang vận hành với tổng dung tích hữu ích khoảng 800 triệu m3); Campuchia đang có kế hoạch nghiên cứu, xây dựng 02 nhà máy thủy điện trên dòng chính sông Mê Công là Sambor và Stungtreng. Bên cạnh đó, Thái Lan cũng đang nghiên cứu một số dự án chuyển nước trong lưu vực và ra ngoài lưu vực với quy mô lớn, cụ thể: i) chuyển nước từ lưu vực sông Mê Công sang lưu vực sông Chao Phraya khoảng 6,2 tỷ m3/năm và ii) các phương án chuyển nước từ dòng chính sông Mê Công vào tích trữ trong các hồ chứa vùng Đông Bắc khoảng 6,5 tỷ m3/năm; chuyển nước từ các dòng nhánh phía Lào sang vùng Đông bắc Thái Lan khoảng 2,5 tỷ m3/năm.

Bốn là, gia tăng nhu cầu khai thác, sử dụng nước mặt lẫn nước ngầm do dân số tăng nhanh và phát triển nông nghiệp, công nghiệp, nuôi trồng thủy sản v.v.. Trong khi việc khai thác sử dụng tài nguyên nước chưa hợp lý và thiếu bền vững dẫn đến tình trạng suy giảm tài nguyên nước cả về chất lẫn lượng, trong khi hiệu quả sử dụng nước còn thấp. Tình trạng ô nhiễm tài nguyên nước mặt ngày càng tăng cả về mức độ, quy mô, nhiều nơi có nước nhưng không thể sử dụng do nguồn nước bị ô nhiễm. Tại một số khu vực, đặc biệt là vùng ven biển, tài nguyên nước dưới đất đang bị khai thác quá mức.

Năm là, biến đổi khí hậu và nước biển dâng, gia tăng xâm nhập mặn cùng với các vấn đề về sụt lún, sạt lở sẽ tác động mạnh mẽ, sâu sắc tới tài nguyên nước.

Sáu là, các giải pháp công trình (hệ thống công trình thủy lợi, kiểm soát mặn, các công trình trữ nước…) còn chưa được đầu tư đồng bộ, toàn diện, chưa phát huy được hiệu quả và nhiều công trình đang xuống cấp; các giải pháp phi công trình cũng chưa phát huy được hiệu quả: hệ thống pháp lý, chính sách còn nhiều bất cập, chồng chéo giữa các ngành, gây khó khăn cho công tác quản lý thống nhất, đồng bộ tài nguyên nước; các quy hoạch tổng thể, quy hoạch tài nguyên nước và các ngành còn triển khai chậm, thiếu tính thống nhất.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan