Thứ 2, 04/07/2022 - 13:49
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Một số đợt hạn hán, xâm nhập mặn điển hình gần đây ở vùng ĐBSCL

Có 2 đợt hạn hán, xâm nhập mặn điển hình gần đây ở đồng bằng sông Cửu Long là Đợt hạn hán, xâm nhập mặn mùa khô 2015-2016 và 2019-2020.

Đợt hạn hán, xâm nhập mặn mùa khô 2015-2016

Do đỉnh lũ vùng đầu nguồn sông Cửu Long năm 2015 ở mức thấp nhất trong chuỗi số liệu từ 1926 đến nay, tổng lượng dòng chảy về khu vực ĐBSCL thiếu hụt nhiều so với TBNN; mùa mưa kết thúc sớm, tổng lượng mưa năm thấp hơn TBNN từ 20-40% nên mặn xâm nhập sớm và mạnh vào hạ lưu các sông trong khu vực.

Theo kết quả đo đạc, độ mặn lớn nhất mùa khô năm 2015 - 2016 của các trạm hầu hết xuất hiện trong khoảng từ đầu tháng 2 đến cuối tháng 3/2016, riêng các trạm: Sông Đốc và Gành Hào, Phước Long, Cà Mau, Xẻo Rô, Rạch Giá, Gò Quao và An Ninh xuất hiện vào tháng 5. Nhìn chung, độ mặn lớn nhất mùa khô năm 2016 tại các trạm hầu hết đều có thời gian xuất hiện sớm hơn và độ mặn đo được cao hơn so với TBNN, cụ thể:

Khu vực sông Vàm Cỏ: Độ mặn lớn nhất đạt 8,1 - 20,3g/l, cao hơn TBNN từ 5,9 - 6,2g/l, phạm vi xâm nhập mặn vào đất liền của độ mặn 4 g/l lớn nhất 90 - 93 km, sâu hơn TBNN 10-15 km;

Khu vực các cửa sông thuộc sông Tiền: Độ mặn lớn nhất đạt 14,6 - 31,2 g/l, cao hơn TBNN từ 3,2 - 12,4 g/l, phạm vi xâm nhập mặn vào đất liền của độ mặn 4 g/l lớn nhất 45 - 65 km, sâu hơn TBNN 20 - 25 km;

Khu vực các cửa sông thuộc sông Hậu: Độ mặn lớn nhất đạt 16,5 - 20,5 g/l, cao hơn TBNN từ 5,9 - 9,3 g/l, phạm vi xâm nhập mặn vào đất liền của độ mặn 4 g/l lớn nhất 55 - 60 km, sâu hơn TBNN 15 - 20 km;

Khu vực ven biển Tây (trên sông Cái Lớn): Độ mặn lớn nhất đạt 11,0 - 23,8 g/l, cao hơn TBNN từ 5,1 - 8,4 g/l, phạm vi xâm nhập mặn vào đất liền của độ mặn 4 g/l lớn nhất 60 - 65 km, sâu hơn TBNN 5 - 10 km.

Đợt hạn hán, xâm nhập mặn mùa khô năm 2019-2020

Mùa khô năm 2019-2020 khu vực hạ lưu vực sông Mê Công (bắt đầu từ khu vực Tam giác vàng, từ Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam) cũng có rất ít mưa, tổng lượng sụt giảm mưa mùa khô so với TBNN giảm dần từ thượng nguồn về hạ du từ 35% đến 65% tổng lượng mưa mùa khô 2019-2020 thậm chí còn thấp hơn so với mùa khô 2015-2016 từ 7-10%.

Do lượng mưa nhỏ nên mực nước 2019 trên khu vực hạ lưu vực sông Mê Công sụt giảm mạnh so với TBNN dẫn đến việc suy giảm dòng chảy từ thượng lưu đổ về làm dòng chảy vào ĐBSCL cũng bị suy giảm, theo số liệu hiện trạng mùa cạn 2019 đến cuối tháng 5/2020, trong 6 tháng mùa cạn 12-5, tổng lượng nước vào vùng ĐBSCL chỉ đạt 56% tổng lượng nước trung bình nhiều năm vào vùng ĐBSCL, 90% tổng lượng nước mùa cạn năm 2015-2016 và 62% tổng lượng nước cùng kỳ năm 2010-2011. Như vậy mùa cạn năm 2019-2020 có lượng nước vào vùng ĐBSCL thấp nhất lịch sử.

Hiện tượng xâm nhập mặn vào sâu nội địa xảy ra sớm (ngay từ những ngày giữa tháng 11/2019 mặn đã bắt đầu xâm nhập vào các cửa sông và tăng đột biến vào giữa tháng 12/2019, sớm hơn TBNN từ 2-3 tháng), sâu hơn TBNN từ 10-25km và kéo dài, được đánh giá là nghiêm trọng hơn đợt hạn, mặn lịch sử mùa khô năm 2015- 2016. Độ mặn cao nhất tại các trạm mùa khô 2019- 2020 cao hơn từ 1-7 g/l so với TBNN. Độ mặn 4 g/l xâm nhập trên các sông như sau:

Khu vực Sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây: phạm vi xâm nhập mặn khoảng 90- 125km, tương đương cùng kỳ năm 2016;

Khu vực Sông Cửa Tiểu, Cửa Đại: phạm vi xâm nhập mặn khoảng 65-100km, sâu hơn cùng kỳ năm 2016 khoảng 25km;

Khu vực Sông Hàm Luông: phạm vi xâm nhập mặn khoảng 70-80km, sâu hơn cùng kỳ năm 2016 khoảng 10km;

Khu vực Sông Cổ Chiên: phạm vi xâm nhập mặn khoảng 65-70km, tương đương cùng kỳ năm 2016;

Khu vực Sông Hậu: phạm vi xâm nhập mặn khoảng 60-65km, sâu hơn cùng kỳ năm 2016 khoảng 2km;

Khu vực Sông Cái Lớn: phạm vi xâm nhập mặn khoảng 60km, sâu hơn cùng kỳ năm 2016 khoảng 2km.

Do công tác dự báo khí tượng, thủy văn hiệu quả và kịp thời nên các Bộ, ngành, địa phương đã chủ động phối hợp và chia sẻ thông tin và có giải pháp ứng phó kịp thời nên thiệt hại do đợt hạn hán 2019-2020 giảm đáng kể so với đợt hạn năm 2015-2016. Tổng diện tích lúa bị thiệt hại vụ Mùa 2019 và Đông Xuân 2019-2020 chỉ bằng 14,3% so với diện tích bị ảnh hưởng năm 2015-2016. Về nước sinh hoạt, trong đợt hạn mặn 2019-2020, các Bộ, ngành và địa phương cũng có các giải pháp ứng phó, đảm bảo cung cấp nước sạch phục vụ người dân chính vì thế chỉ có khoảng 96.000 hộ dân nông thôn gặp khó khăn về nước sinh hoạt trong thời gian diễn ra hạn, mặn, giảm 54% so với năm 2015-2016.

Nguyên nhân gây ra hạn hán, xâm nhập mặn

Lượng mưa các tháng cuối mùa mưa năm 2015, 2019 thấp hơn TBNN làm cho thế cân bằng giữa nước mặn và nước ngọt có xu hướng dịch vào sâu trong đất liền; lượng mưa trên toàn bộ lưu vực suy giảm khoảng 30-50%, dòng chảy từ biển hồ suy giảm 50-75% so với TBNN.

Chế độ dòng chảy trên dòng chính sông Mê Công chịu ảnh hưởng lớn của chế độ vận hành tích nước của các hồ chứa trên dòng chính và dòng nhánh thượng nguồn và việc khai thác sử dụng nước của các quốc gia ven sông. Theo phân tích của Ủy ban sông Mê Công Việt Nam thì dòng chảy từ Trung Quốc đóng vai trò khá nhỏ trong mùa khô, đặc biệt là mùa khô năm 2019-2020 ở vùng ĐBSCL với mức độ ảnh hưởng khoảng 15%. Đối với vùng hạ lưu vực sông Mê Công thì ở dòng chính mới chỉ có hai công trình đang vận hành là Xay-nha-bu-ly và Đôn Sa-hông với tổng dung tích nhỏ (800 triệu m3), vận hành theo chế độ đập dâng nên có ảnh hưởng không lớn đến mùa khô khu vực ĐBSCL. Đối với các công trình trên dòng nhánh vốn có tổng dung tích hữu ích lớn (khoảng 49 tỷ m3) thì do trải qua mùa lũ 2019 nhỏ và lượng mưa ít nên các công trình đang tập trung tích nước và hạn chế xả nước. Bên cạnh đó, tất cả dòng nhánh tại Thái Lan đều bị chặn bằng giải pháp công trình để phục vụ hạn hán. Vì vậy đã ảnh hưởng và làm trầm trọng hóa tình trạng hạn hán, thiếu nước ở hạ du. Đồng thời, do mưa ít trên lưu vực nên nhu cầu sử dụng nước của các quốc gia thượng nguồn tăng mạnh. Theo ước tính sơ bộ, tổng lượng nước sử dụng gia tăng thêm trong mùa khô 2019-2020 ở các quốc gia thượng nguồn Hạ lưu vực sông Mê Công tăng khoảng 3,6 tỷ m3 so với TBNN (tăng khoảng 25%).

Do lượng mưa suy giảm và khai thác sử dụng nước ở thượng nguồn, lượng nước vào ĐBSCL các tháng cuối mùa mưa năm 2015, 2019 và các tháng đầu năm 2016, 2020 thấp hơn nhiều so với TBNN. Theo kết quả quan trắc thì lượng nước từ thượng nguồn sông Mê Công về Tân Châu, Châu Đốc (Việt Nam) suy giảm 24-50% so với TBNN.

Các cửa sông bị xói sâu hơn do trong những năm gần đây lũ ĐBSCL thấp, lượng phù sa ít, tạo điều kiện thuận lợi cho mặn lên cao.

Mực nước triều trung bình ven biển ĐBSCL có xu thế cao hơn trước 10-12 cm, trong đó mực nước đỉnh triều cường còn cao hơn nữa, từ 20-25 cm do tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

Sản xuất nông nghiệp chưa chuyển đổi đáng kể, lượng nước sử dụng vẫn còn lớn; đồng thời vẫn chạy theo năng suất canh tác, tận dụng nguồn nước để canh tác khiến khả năng trữ lũ của toàn ĐBSCL giảm.

Đặc điểm địa hình vùng ĐBSCL bằng phẳng và thấp ngang mực nước mặt biển, không có nhiều hồ chứa, hồ điều hoà, nên khả năng giữ nước kém và phụ thuộc rất lớn từ nguồn nước được cung cấp từ thượng nguồn sông Mê Công.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan