Thứ 2, 04/07/2022 - 13:13
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Thúc đẩy các giải pháp phi công trình trong ứng phó, phòng chống hạn hán và xâm nhập mặn

Các giải pháp tập trung tăng cường năng lực dự báo, cảnh báo và cơ chế chia sẻ thông tin, dữ liệu dự báo, cảnh báo; đồng thời thực hiện ác giải pháp tổng thể, đồng bộ, tích hợp cho vùng ĐBSCL theo hướng tiếp cận liên kết vùng và hợp tác quốc tế, , khoa học công nghệ, tuyên truyền.

Tăng cường năng lực dự báo, cảnh báo và cơ chế chia sẻ thông tin, dữ liệu dự báo, cảnh báo

Tiếp tục tăng cường công tác quan trắc, dự báo, cảnh báo hạn hán, xâm nhập mặn, tập trung vào dự báo, cảnh báo sớm; xây dựng và nâng cấp hệ thống trạm quan trắc khí tượng thủy văn hiện đại, đồng bộ, tự động, hệ thống giám sát, dự báo cảnh báo sớm diễn biến tài nguyên nước vùng ĐBSCL;

Xây dựng và đưa vào khai thác cơ sở dữ liệu tích hợp dùng chung cho cả vùng về khí tượng, thủy văn, tài nguyên nước, đất đai, môi trường và cơ chế chia sẻ thông tin, dữ liệu giữa trung ương và địa phương, các ngành. Trước mắt, cần chia sẻ ngay số liệu đo mặn của các Bộ, ngành và địa phương trong vùng;

Tăng cường cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin kịp thời giữa các Bộ, ngành và địa phương, đặc biệt là các thông tin số liệu quan trắc về mực nước, lưu lượng và độ mặn tại các trạm quan trắc ở vùng ĐBSCL hỗ trợ vận hành và chỉ đạo sản xuất chủ động trên vùng ĐBSCL;

Cung cấp kịp thời thông tin dự báo, cảnh báo một cách trực quan theo không gian để chính quyền địa phương và người dân có thông tin về thời gian duy trì ranh mặn trên 4g/l để chủ động phòng tránh khi xảy ra hạn mặn.

Các giải pháp tổng thể, đồng bộ, tích hợp cho vùng ĐBSCL theo hướng tiếp cận liên kết vùng

Khẩn trương hoàn thành việc xây dựng Quy hoạch tổng thể vùng đồng bằng sông Cửu Long trên cơ sở rà soát các quy hoạch ngành, lĩnh vực, địa phương đã có tại vùng ĐBSCL đặc biệt là quy hoạch thủy lợi, nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, cấp nước, giao thông thủy, lấy tài nguyên nước là yếu tố cốt lõi theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Nghị quyết số 120/NQ-CP và Chỉ thị số 23/CT-TTg;

Khẩn trương hoàn thành xây dựng quy hoạch tổng hợp tài nguyên nước vùng ĐBSCL (Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Cửu Long) trong điều kiện biến đổi khí hậu và tác động do các hoạt động khai thác sử dụng nước của các quốc gia ở thượng nguồn sông Mê Công;

Quy hoạch vùng dân cư và tổ chức sản xuất thích ứng với thiên tai, bố trí lùi vào phía trong bờ biển/bờ sông để đảm bảo an toàn trước các ảnh hưởng của thiên tai; phân chia các khu vực trong vùng xâm nhập mặn, ngập lụt để quản lý và khai thác một cách khoa học và hợp lý, như sử dụng đất, đầu tư phát triển, bố trí cơ cấu mùa vụ, giải pháp định canh, định cư an toàn và ổn định, giải pháp cấp nước, tiêu thoát nước;

Chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, đặc biệt là cơ cấu các vụ lúa, kết hợp với trồng cây ăn quả, nuôi trồng thủy sản phù hợp với điều kiện nguồn nước từng vùng; tăng cường đưa vào canh tác các giống lúa và cây ăn quả chịu mặn, lợ; kịp thời chuyển dịch thời vụ gieo trồng hoặc chuyển đổi cơ cấu sản xuất trên cơ sở theo dõi sát thông tin dự báo, cảnh báo, diễn biến hạn hán, xâm nhập mặn trên lưu vực và từng vùng;

Tăng cường vai trò điều phối, giám sát các hoạt động khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra của Ủy ban sông Mê Công Việt Nam;

Đưa vào hoạt động các cơ chế liên kết vùng giữa các địa phương trong vùng ĐBSCL để đảm bảo khai thác, sử dụng tài nguyên nước bền vững phù hợp với đặc điểm hệ sinh thái tự nhiên, điều kiện cụ thể của vùng và từng tiểu vùng sinh thái; đảm bảo các mục tiêu phát triển kinh tế và phát triển bền vững tài nguyên nước và các tài nguyên liên quan vùng ĐBSCL.

Hợp tác quốc tế

Đàm phán, thuyết phục, đấu tranh để các quốc gia có các hồ chứa thủy điện lớn, kể cả ở dòng chính và dòng nhánh, cùng hợp tác trong việc vận hành phát điện, xả nước xuống hạ du, bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu trên sông ở mức chấp nhận được, phù hợp với các nguyên tắc sử dụng công bằng và hợp lý tài nguyên nước;

Thúc đẩy các hoạt động hợp tác về nguồn nước trong khuôn khổ hợp tác Mê Công - Lan Thương nhằm đạt được thỏa thuận với Trung Quốc về việc chia sẻ thông tin số liệu trong mùa khô, đặc biệt là thông tin về quy trình vận hành các đập thủy điện Trung Quốc, tăng cường xả nước giúp các quốc gia hạ nguồn chống hạn;

Tăng cường sự chủ động của Việt Nam trong tham gia các cơ chế hợp tác khu vực, đề xuất sáng kiến để tận dụng các mặt tích cực, hạn chế những bất lợi, và tăng khả năng định hướng hợp tác; đồng thời thúc đẩy sự gắn kết bổ trợ giữa hợp tác Mê Công với ASEAN cũng như vai trò, tiếng nói của ASEAN trong các cơ chế hợp tác Mê Công để gia tăng sự quan tâm của hỗ trợ của quốc tế trong giải quyết các thách thức phát triển mà khu vực Mê Công đang phải đối mặt.

Giải pháp về nguồn lực, khoa học công nghệ, tuyên truyền

Xây dựng kế hoạch huy động và phân bổ đầu tư trong trung và dài hạn, đảm bảo đủ vốn, có lộ trình cụ thể đối với các công trình hạ tầng thiết yếu cấp tiểu vùng và toàn vùng;

Nghiên cứu phát triển và ứng dụng các giải pháp công trình mềm, công trình có nguyên vật liệu tại chỗ, công trình có nguyên vật liệu giá rẻ, dễ tìm, dễ đầu tư, kỹ thuật đơn giản...;

Cập nhật các kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng có độ tin cậy cao phục vụ công tác quy hoạch và ứng phó với hạn hán, xâm nhập mặn, BĐKH vùng ĐBSCL;

Nghiên cứu đề xuất các phương án tăng cường khả năng trữ lũ, giữ nước ngọt với quy mô phù hợp với ĐBSCL nhằm tăng cường trữ nước, điều tiết nguồn nước cho từng vùng sinh thái;

Xây dựng Chương trình thúc đẩy nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao và ứng dụng công nghệ cao, công nghệ xanh thích ứng với biến đổi khí hậu với sự tham gia và liên kết giữa các Viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức khuyến nông, doanh nghiệp, hợp tác xã và chính quyền địa phương;

Thông qua cứu trợ, khôi phục và bảo hiểm thiên tai để chia sẻ tổn thất do thiên tai gây ra cho người dân vùng ven biển, vùng ngập lũ…, đặc biệt coi trọng những người dễ bị tổn thương do thiên tai như người già, phụ nữ và trẻ em. Tăng cường giáo dục cộng đồng trong phòng tránh thiên tai;

Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức; vận động hướng dẫn người dân sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, phòng chống ô nhiễm nguồn nước; thay đổi tập quán canh tác, thích ứng với điều kiện nguồn nước từng vùng; áp dụng các mô hình áp dụng công nghệ tăng trưởng xanh, sử dụng tái tuần hoàn tài nguyên nước;

Tăng cường cơ chế xã hội hóa để huy động nguồn lực của xã hội trong quản lý và bảo vệ tài nguyên nước.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan