Chủ nhật, 14/08/2022 - 19:06
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Đồng Tháp: Thực trạng phát triển kinh tế hợp tác và chuỗi giá trị nông sản bền vững với biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Cửu Long

Qua 02 năm thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu, UBND tỉnh Đồng Tháp đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận.

 

 Hiện trạng phát triển kinh tế hợp tác

Tỉnh Đồng Tháp có 164 Hợp tác xã (HTX) nông nghiệp đang hoạt động theo Luật Hợp tác xã 2012. Phần lớn các hợp tác xã kinh doanh đa dịch vụ; đồng thời đẩy mạnh kết nối với doanh nghiệp để tiêu thụ nông sản cho xã viên.

Tổng doanh thu năm 2018: có 120/164 HTX tổ chức tổng kết (44 HTX còn lại chưa tổng kết, trong đó: 21 HTX mới thành lập; 9 HTX ngưng hoạt động, đang làm thủ tục giải thể; 14 HTX chưa tổng kết tình hình hoạt động kinh doanh), với tổng doanh thu là 213.684 triệu đồng; lợi nhuận 23.203 triệu đồng, lợi nhuận bình quân 01 HTX NN là 193 triệu đồng.

Xếp loại HTXNN theo Thông tư số 09/2017/TT-BNNPTNT, tổng số xếp loại 120/164 HTX NN: Loại tốt có 15 HTX chiếm 14%; loại khá có 45 HTX chiếm 33%; loại trung bình có 50 HTX chiếm 43%; loại yếu 10 HTX chiếm 10%.

Năm 2018, diện tích thực hiện liên kết tiêu thụ là 43.959 ha, sản lượng thu mua qua hợp đồng là 269.747 tấn; trong đó có 50 doanh nghiệp, 53 HTX và 18 THT tham gia. Nổi bật với các mô hình như: “Hợp tác xã cho nông dân tạm trữ lúa tại kho của hợp tác xã sau khi thu hoạch tại thời điểm giá lúa thấp”; mô hình “Canh tác lúa thông minh” do Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp Mỹ Đông II phối hợp cùng Công ty Rynan Smart Fertilizers (tỉnh Trà Vinh) thực hiện; mô hình “Ứng dụng công nghệ nhà màng và tưới nhỏ giọt để sản xuất giống ớt sạch bệnh” của Hợp tác xã Tân Bình; mô hình “Ứng dụng công nghệ blockchain vào truy xuất nguồn gốc và áp dụng thương mại điện tử” cho mô hình “Cây xoài nhà tôi” của Hợp tác xã xoài Mỹ Xương; mô hình “Ruộng nhà mình” của Hợp tác xã Thuận Tiến kết hợp với các doanh nghiệp để cung ứng gạo được sản xuất theo quy trình an toàn cho người tiêu dùng ở Hà Nội,...

Với sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh cùng các ngành đã mạnh dạn, chủ động thực hiện mô hình “Hội quán” trên cơ sở tự nguyện, tự chủ, tự quản của người dân, là một thiết chế đa chức năng mới ở nông thôn với phương châm “Chăm chỉ - Tự lực - Hợp tác” nhằm chia sẻ những “chuyện làng, chuyện xóm” và hỗ trợ nhau trong sản xuất, kinh doanh. Đến nay, đã thành lập 70 Hội quán và hoạt động ổn định, có hiệu quả, với tổng số 3.700 thành viên tham gia; đồng thời có 14 hợp tác xã được thành lập từ nền tảng mô hình Hội quán.

Việc xây dựng chuỗi giá trị nông sản bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu

Để chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tỉnh đã và đang triển khai mô hình sản xuất nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu gắn kết với xây dựng chuỗi giá trị nông sản như: xây dựng mô hình liên kết sản xuất - tiêu thụ lúa gạo theo tiêu chuẩn SRP do Tập đoàn Lộc Trời và Tập đoàn Phoenix triển khai; mô hình sản xuất lúa theo tiêu chuẩn 1P5G do Dự án VnSAT triển khai thực hiện ở 41 HTX, 1 Tổ hợp tác, với diện tích 22.505 ha; thực hiện dự án Rikolto hỗ trợ các nông hộ, HTX sản xuất lúa theo tiêu chuẩn SRP ở các HTX Tân Bình, Bình Thành, Tân Cường, Thắng Lợi; dự án BRIA 2 huấn luyện cho 2.500 hộ sản xuất lúa theo chuẩn SRP gắn liên kết tiêu thụ với Tập đoàn OLAM,…

Để tăng sức cạnh tranh giá trị nông sản trên thị trường, thì tất yếu các chuỗi ngành hàng nông sản phải được hình thành. Trong điều kiện đó, HTX phải nâng cao vai trò của kinh tế tập thể trong việc liên kết với doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ. Hiện nay, chuỗi giá trị các ngành hàng chủ lực của tỉnh cơ bản đã được hình thành và phát huy hiệu quả tích cực.

Đánh giá chung

Một số chủ thể tham gia trong chuỗi giá trị ngành hàng chưa mạnh dạn tham gia thực hiện, đặc biệt là doanh nghiệp chưa chú trọng việc liên kết với nông dân và HTX, chủ yếu thu mua nông sản từ thương lái.

Một bộ phận nông dân sản xuất dựa vào kinh nghiệm, theo tập quán (chú trọng vào năng suất, sản lượng); sản xuất không theo nhu cầu thị trường; việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật còn phổ biến gây mất an toàn vệ sinh thực phẩm, ảnh hưởng xấu đến môi trường,...

Việc đào ao nuôi cá tra và phát triển diện tích trồng cây có múi ngoài quy hoạch, kết hợp với việc sản xuất chưa gắn với thị trường trong thời gian qua gây tiềm ẩn nguy cơ cung vượt cầu và gây ô nhiễm môi trường.

Việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng từ sản xuất lúa sang hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày chưa đạt kế hoạch do đầu ra thiếu ổn định, cơ sở hạ tầng, phục vụ sản xuất chưa phù hợp với điều kiện thực tế.

Các HTX chưa mạnh dạn tham gia ký hợp đồng liên kết và tiêu thụ với doanh nghiệp; khả năng tiếp cận vốn vay của HTX còn hạn chế do phương án sản xuất kinh doanh HTX chưa khả thi. Năng lực hoạt động của các HTX nông nghiệp còn hạn chế, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, tổ chức bộ máy quản lý HTX còn bất cập so với cơ chế quản lý mới.

Giải pháp

Tiếp tục nghiên cứu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất góp phần giảm giá thành; phối hợp với các viện, trường nghiên cứu, hoàn thiện quy trình canh tác tiên tiến, lai tạo giống mới thích ứng với biến đổi khí hậu; nhân rộng các mô hình áp dụng biện pháp sản xuất tiên tiến, góp phần giảm giá thành, tăng hiệu quả sản xuất.

Tổ thông tin và phân tích thị trường nông sản Tỉnh thường xuyên thu thập thông tin về thị trường thông qua các sự hỗ trợ của các doanh nghiệp, Hiệp hội, ngành chuyên môn để thông tin kịp thời cho các địa phương, HTX, nông dân để định hướng sản xuất cho phù hợp với yêu cầu thị trường.

Tiếp tục rà soát quy hoạch, kế hoạch sản xuất từng ngành, từng lĩnh vực và lợi thế của từng địa phương, nhu cầu thị trường (trong nước và thế giới) và ứng phó với biến đổi khí hậu; quy hoạch vùng sản xuất quy mô lớn theo hướng tập trung, hiện đại để có thể áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm tạo ra những nông sản có chất lượng cao, bảo đảm an toàn thực phẩm, đáp ứng yêu cầu của nước nhập khẩu. Tổ chức lại sản xuất theo hướng hợp tác, liên kết theo chuỗi giá trị khép kín, gắn sản xuất nguyên liệu với chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị.

Tập trung tháo gỡ những khó khăn của HTX như: nguồn lực còn hạn chế, cơ sở hạ tầng chưa đầy đủ, thiếu vốn hoạt động, khó tiếp cận tín dụng,… bằng các chính sách thúc đẩy sự cải thiện năng lực HTX, tiến tới đa dạng hóa các hoạt động của HTX, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, thu hút ngày càng nhiều người tham gia vào HTX.

Liên kết sản xuất giữa các hộ nông dân (liên kết ngang) tạo vùng nguyên liệu có khối lượng lớn đủ sức hấp dẫn các doanh nghiệp, các thương lái đến thu mua; tăng cường củng cố các hợp tác xã lấy HTX làm đầu mối liên kết với các doanh nghiệp, thương lái; tổ chức tập huấn chuyên sâu, đào tạo cho giám đốc, ban quản trị HTX, hộ nông dân về sản xuất hàng hoá theo chuỗi giá trị, truy xuất nguồn gốc và liên kết tiêu thụ.

Tăng cường kêu gọi đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh cung ứng đầu vào cho sản xuất, thu mua và chế biến nông sản hỗ trợ phát triển hợp tác, liên kết sản xuất theo chuỗi, gắn với tiêu thụ; giảm tổn thất trong nông nghiệp.

Hỗ trợ xây dựng nhãn hiệu, cải tiến và phát triển bao bì hàng hóa, xây dựng thương hiệu cho nông sản tạo thuận lợi cho việc tiêu thụ cho nông dân. 

Nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến thương mại, tố chức các hoạt động kết nối cung cầu, các hoạt động hội chợ, triển lãm, giới thiệu các mặt hàng nông sản, kết nối giữa vùng sản xuất với hệ thống phân phối; kết nối giữa thị trường trong nước với quốc tế.

Tiếp tục rà soát và thực hiện chính sách chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn (hỗ trợ các khâu sản xuất, sơ chế, chế biến và thương mại, tiêu thụ lúa gạo) để phù hợp với thực tiễn hơn, tác động mạnh và hiệu quả hơn nhằm khuyến khích các tác nhân tham gia phát triển chuỗi. Bên cạnh đó triển khai có hiệu quả các chính sách đặc thù của tỉnh để khuyến khích và tạo điều kiện cho các chủ thể trong chuỗi ngành hàng phát triển bền vững.

Một số đề xuất kiến nghị

Chính phủ xem xét, dành nguồn vốn riêng để thực hiện Quyết định số 445/QĐ-TTg ngày 21/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Thí điểm hoàn thiện, nhân rộng mô hình Hợp tác xã kiểu mới tại vùng ĐBSCL giai đoạn 2016 - 2020”; có chính sách khuyến khích, hỗ trợ các HTX ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất; đồng thời thống nhất cơ chế cho nông dân và HTX được thế chấp “hợp đồng liên kết với doanh nghiệp” để vay vốn từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng.

Bộ Công Thương hỗ trợ cung cấp thông tin về thị trường tiêu thụ nông sản; đồng thời định hướng nhu cầu của thị trường để các địa phương doanh nghiệp, HTX, người dân biết thực hiện sản xuất phù hợp./.

CTTĐT


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan