Chủ nhật, 14/08/2022 - 19:41
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tình hình lồng ghép thích ứng biến đổi khí hậu, ứng phó rủi ro thiên tai trong xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Trà Vinh

TÌNH HÌNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ THIÊN TAI CỦA TỈNH TRONG THỜI GIAN QUA

Trà Vinh là tỉnh thuộc vùng đồng bằng ven biển, nằm giữa hạ lưu hai con sông lớn là sông Hậu và sông Cổ Chiên, có đường bờ biển dài 65km. Phía Đông giáp Biển Đông, phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Long, phía Nam giáp tỉnh Sóc Trăng, phía Bắc giáp tỉnh Bến Tre. Diện tích tự nhiên của tỉnh 2.341 km2. Tỉnh có 09 đơn vị hành chính, bao gồm 01 thành phố, 01 thị xã và 07 huyện với 106 xã, phường, thị trấn.

Trong những năm qua, tình hình thiên tai trên địa bàn tỉnh diễn biến khá phức tạp, mức độ ảnh hưởng chưa lớn nhưng cũng gây không ít thiệt hại đến đời sống và sản xuất của người dân. Các loại hình thiên tai thường xuyên ảnh hưởng trên địa bàn tỉnh bao gồm: Bão, áp thấp nhiệt đới, dông, lốc, sét, nước dâng (triều cường), sạt lở đất do dòng chảy, hạn hán, xâm nhập mặn và gió mạnh trên biển với cấp độ RRTT được xác định như sau:

Bão, áp thấp nhiệt đới: Bão, áp thấp nhiệt đới (sau đây gọi tắt là ATNĐ) trong những năm qua diễn biến phức tạp. Mặc dù ít bị đổ bộ trực tiếp vào địa bàn tỉnh nhưng khi xuất hiện trên biển Đông (vào tháng 9 đến tháng 12) bão, ATNĐ gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống, sinh hoạt của người dân. Bão, ATNĐ gây mưa lớn kéo dài làm ngập úng cục bộ ở những vùng trũng thấp gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp và tài sản của người dân. Cấp độ rủi ro thiên tai: Cấp độ 3.

Lốc, sét: Giông, lốc, sét là hiện tượng thiên tai bất thường, xảy ra bất ngờ và trong thời gian ngắn nên rất khó đề phòng. Cấp độ rủi ro thiên tai: Cấp độ 1.

Hạn hán và xâm nhập mặn: Trong những năm gần đây, tình hình hạn, mặn luôn diễn biến rất phức tạp, mặn xâm nhập sớm và sâu kết hợp với nắng nóng kéo dài gây thiệt hại đáng kể cho sản xuất và đời sống của người dân, đặc biệt là tình trạng thiếu nước ngọt sản xuất. Từ năm 2010 đến nay, độ mặn trên các sông lớn luôn cao hơn trung bình nhiều năm và kéo dài. Độ mặn cao nhất ghi nhận tại vàm Trà Vinh 12,8‰ (xuất hiện vào ngày 25/02/2013). Cấp độ rủi ro thiên tai: Cấp độ 1.

Nước dâng (triều cường): Triều cường thường dâng cao vào các tháng cuối năm, biên độ triều cao nhất ghi nhận tại vàm Trà Vinh là 1,91m (tháng 10/2013), tại Cầu Quan là 2,14m (tháng 10/2011). Triều cường dâng cao gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, sản xuất của người dân, đặt biệt là các xã ven biển, ven sông lớn thuộc các huyện: Châu Thành, Cầu Ngang, Duyên Hải, Trà Cú và Cầu Kè. Cấp độ rủi ro thiên tai: Cấp độ 1.

Sạt lở đất do dòng chảy: Tình trạng sạt lở đất do dòng chảy thường xảy ra tại các sông lớn, hoặc khu vực trước và sau các cống đầu mối ngăn mặn. Những năm có triều cường dâng cao, tình trạng sạt lở diễn ra càng nghiêm trọng hơn. Thống kê cho thấy, hiện trên địa bàn tỉnh Trà Vinh có các khu vực sạt lở nghiêm trọng do tác động của dòng chảy: Khu vực Cồn Hô (xã Đức Mỹ, huyện Càng Long), Cồn Long Trị (xã Long Đức, thành phố Trà Vinh), Cồn Bần Chát (xã Hòa Tân, huyện Cầu Kè), cù lao Long Hoà, Hoà Minh (xã Long Hòa, xã Hòa Minh, huyện Châu Thành) (tốc độ sạt lở trung bình từ 3 đến 8m/năm); bờ biển Cồn Nhàn xã Dân Thành, bờ biển xã Hiệp Thạnh, bờ biển Cồn Trứng xã Trường Long Hoà, thị xã Duyên Hải (tốc độ sạt lở trung bình từ 10 đến 15m/năm); khu vực cống Thâu Râu huyện Cầu Ngang, cống Cái Hóp, cống Láng Thé huyện Càng Long, cống Cần Chông huyện Tiểu Cần (tốc độ sạt lở trung bình từ 2 đến 3m/năm). Cấp độ rủi ro thiên tai: Cấp độ 1.

Gió mạnh trên biển: Gió mạnh trên biển thường xuất hiện vào các tháng gió mùa Đông Bắc (từ tháng 11 đến tháng 4 hàng năm) ảnh hưởng đến hoạt động đánh bắt thủy sản của ngư dân trong tỉnh. Hiện trên địa bàn tỉnh có 1.122 tàu cá đang hoạt động đánh bắt trên biển, đa số các tàu cá có công suất nhỏ và hoạt động gần bờ. Cấp độ rủi ro thiên tai: Cấp độ 1.

KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, ỨNG PHÓ RỦI RO THIÊN TAI GẮN VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Đối với lĩnh vực Đầu tư cơ sở hạ tầng: Tỉnh đã tranh thủ nguồn vốn hỗ trợ của Trung ương để thực hiện đầu tư xây dựng các Chương trình mục tiêu như: Chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội các vùng, Chương trình mục tiêu hỗ trợ vốn đối ứng ODA cho các địa phương; Chương trình mục tiêu phát triển kinh tế thủy sản bền vững; Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững; Chương trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phòng chống thiên tai, ổn định đời sống dân cư; Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh;... với nguồn vốn được phân hơn 300,613 tỷ đồng, để thực hiện đầu tư một số dự án như: Đê, kè chống sạt lở, các tuyến đê biển, cảng cá, cung cấp nước sinh hoạt, trồng rừng phòng hộ ven biển,... một số dự án hoàn thành cơ bản đã phát huy hiệu quả và đáp ứng phục vụ sản xuất trong điều kiện biến đổi khí hậu diễn ra ngày càng phức tạp hiện nay.

Lĩnh vực Tài nguyên và Môi trường: Thực hiện triển khai Quy hoạch tài nguyên nước tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2016 - 2025, tầm nhìn đến năm 2035; công bố “Danh mục hành lang bảo vệ nguồn nước tỉnh Trà Vinh”; triển khai thực hiện các nhiệm vụ thuộc Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh trên địa bàn tỉnh Trà Vinh gồm: Xây dựng, cập nhật kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 tỉnh Trà Vinh; Đánh giá khí hậu tỉnh Trà Vinh; Dự án biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Cửu Long tại tỉnh Trà Vinh (AMD).

Đã kiểm tra công tác bảo vệ môi trường đối với 49 cơ sở thuộc đối tượng lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và đề án bảo vệ môi trường chi tiết trên địa bàn tỉnh; xử lý 02 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg và Quyết định số 1788/QĐ-TTg ngày 01/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ. Tổ chức kiểm tra sự cố cháy Tháp hấp thụ của hệ thống khử lưu huỳnh (FGD) của dự án “Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 3 mở rộng”; tình hình cát bay tại khu đổ bùn 70 ha ấp Long Khánh, xã Long Khánh, huyện Duyên Hải. Ngoài ra, hiện tại đang đầu tư 02 trạm quan trắc không khí và 01 Trung tâm điều hành thuộc dự toán Mua sắm trang thiết bị quan trắc môi trường nhằm đánh giá mức độ phát tán chất ô nhiễm trong không khí của Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải, giúp giám sát sự phát thải và đủ cơ sở dữ liệu để tính toán các chỉ số chất lượng không khí, từ đó có biện pháp xử lý, cảnh báo và ngăn chặn sự lan truyền ô nhiễm kịp thời.

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Tiếp tục thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; đồng thời đang thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp, đã xây dựng được các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa tập trung, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trên thị trường, gồm: Vùng sản xuất lúa hàng hóa tập trung theo tiểu vùng ngọt và ngọt hóa; sản xuất cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày cũng đã hình thành được một số vùng chuyên canh tập trung; sản xuất nông nghiệp hữu cơ và ứng dụng công nghệ cao đang có xu hướng phát triển, cụ thể: Có 1.000 ha lúa sản xuất theo hướng hữu cơ trên địa bàn huyện Châu Thành và Tiểu Cần; 142 ha sản xuất rau an toàn, 103 ha sản xuất cây ăn trái đạt chứng nhận GAP; ứng dụng thành công công nghệ sinh học trong việc bình tuyển, chọn lọc, lai tạo các giống gia súc lớn, ứng dụng công nghệ thụ tinh nhân tạo để cải thiện giống bò, heo; khoảng 9.000 ha diện tích nuôi tôm nước lợ áp dụng công nghệ nuôi thâm canh,...

Triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt; thực hiện Nghị quyết số 78/2018/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh cụ thể hóa Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 05/7/2018 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; chuẩn bị các nội dung để triển khai thực hiện và tổ chức hội nghị triển khai Nghị quyết số 77/2018/HĐND ngày 07/12/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh cụ thể hóa Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 của Chính phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.

Công tác thủy lợi, phòng chống thiên tai và ổn định dân cư được quan tâm chỉ đạo thực hiện thường xuyên, xây dựng và triển khai Kế hoạch phòng chống thiên tai và Phương án ứng phó sự cố thiên tai; nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2020, kiểm tra các tuyến đê, kè để kịp thời xử lý các sự cố; triển khai thi công nâng cấp các tuyến đê biển. Ngoài ra, còn sử dụng nguồn vốn phòng chống hạn mặn, thực hiện 17 công trình nạo vét 140 km kênh cấp II tại các huyện Trà Cú, Châu Thành, Cầu Ngang, Cầu Kè và Tiểu Cần phục vụ sản xuất và dân sinh.

- Tiếp tục đầu tư thi công các công trình thủy lợi phục vụ nuôi thủy sản và tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới. Triển khai thực hiện 35 dự án, trong đó 09 dự án hoàn thành, 13 dự án chuyển tiếp và 13 dự án khởi công mới, gồm: 08 công trình phục vụ nuôi, khai thác thủy sản; 12 công trình đê, kè; 15 công trình dân dụng. Nhìn chung, các công trình hoàn thành đã phát huy được hiệu quả việc thích ứng biến đổi khí hậu, ứng phó rủi ro thiên tai trong xây dựng nông thôn mới .

* Kết quả xây dựng các mô hình sản xuất thích ứng biến đổi khí hậu: Công tác xây dựng và nhân rộng các mô hình SX nông nghiệp được xem là khâu đột phá trong thực hiện giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu, ứng phó rủi ro thiên tai, đặc biệt đã tập trung đưa giống cây, con giống mới vào sản xuất nhằm tăng năng suất và chất lượng. Cụ thể:

Công tác bồi dưỡng, tập huấn, đào tạo và chuyển giao khoa học kỹ thuật:  Từ năm 2017-2018, đã tổ chức đào tạo trên 40 lượt cán bộ làm công tác khuyến nông để nâng cao năng lực về chuyên môn và trình độ lý luận chính trị; tập huấn, chuyển giao KHKT cho trên 1.000 lớp/3.000 lượt nông dân về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản theo hướng sản xuất an toàn, thực hành nông nghiệp tốt (VietGAP) và hữu cơ; tổ chức hội thảo, tổng kết, tọa đàm, tham quan học tập trên 100 cuộc/5.000 lượt người.

Công tác thông tin tuyên truyền: Thực hiện chuyên mục, phóng sự, tọa đàm, ấn phẩm khuyến nông được đổi mới về hình thức, nội dung ngày càng phong phú, đa dạng, phù hợp với thực tế, đáp ứng được nhu cầu của người dân. Kết hợp Đài Phát thanh Truyền hình thực hiện 30 chuyên mục, 15 cuộc tọa đàm, 12 cuộc phóng sự và 45 bản tin thời sự với thời lượng khoảng 1.230 phút; in ấn và cấp phát 750 cuốn sổ tay Khuyến nông 2015 -2018, 7.000 cuốn tờ tin khuyến nông, 350.000 tờ tài liệu bướm; tham gia 04 hội thi và 12 cuộc hội chợ về lĩnh vực nông nghiệp và khuyến nông.

Công tác xây dựng và nhân rộng mô hình: Xây dựng trên 50 mô hình với khoảng 200 điểm trình diễn về trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản ứng dụng khoa học kỹ thuật mới thích ứng với biến đổi khí hậu, mang lại hiệu quả cao trên các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản, các mô hình thực hiện đạt hiệu quả trên 95%, điển hình có các mô hình hiệu quả như: Mô hình cánh đồng lớn về sản xuất lúa; mô hình sản xuất lúa sử dụng phân bón thông minh; mô hình trồng thanh long ruột đỏ; mô hình trồng bưởi da xanh; trồng dừa sáp; mô hình nuôi cá lóc, cá tra thâm canh; mô hình nuôi tôm công nghệ cao (tôm thẻ chân trắng và tôm sú); mô hình nuôi bò thịt, bò sinh sản; nuôi gà thả vườn,...

Ngoài ra, Sở Nông nghiệp và PTNT đã phối hợp với các sở, ngành và các huyện rà soát, điều chỉnh lại các quy hoạch đối với từng cây, con, phù hợp lợi thế từng vùng, có kế hoạch tái cơ cấu nông nghiệp; tập trung củng cố và nâng cấp các HTX nông nghiệp, lồng ghép xây dựng các mô hình phát triển sản xuất. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Hội nông dân tỉnh, Dự án AMD Trà Vinh cũng nghiên cứu tìm ra các giống cây, con mới, thích ứng với BĐKH. Bên cạnh đó, Sở Khoa học và Công nghệ thực hiện Chương trình “Hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 - 2025”, như thực hiện Dự án “Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong chăn nuôi bò thịt chất lượng cao tại Trà Vinh”, Dự án “Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và xây dựng mô hình nhân giống và trồng cam sành không hạt chất lượng cao tại Trà Vinh”.

Đối với các khu vực ven biển, thực hiện mô hình gắn việc trồng rừng, bảo vệ rừng với bảo tồn đa dạng sinh học, vừa giúp người dân có thể nuôi nhiều loại thủy sản, vừa bảo tồn và khai thác tốt nguồn lợi thủy sản của thiên nhiên. Ngoài nguồn vốn Nhà nước đầu tư trồng rừng, nhiều hộ dân ở huyện Duyên Hải, thị xã Duyên Hải đã tự bỏ vốn đầu tư trồng rừng trên diện tích nuôi các loài thủy sản, nhất là diện tích nuôi tôm sú và nuôi cua biển. Bên cạnh việc vận động người dân tham gia đầu tư trồng rừng, huyện Duyên Hải còn tiến hành giao khoán cho người dân địa phương chăm sóc và bảo vệ phần lớn diện tích rừng, góp phần nâng tỷ lệ che phủ vùng đệm là 55% và vùng phục hồi sinh thái là 70%.

Việc xây dựng các mô hình trình diễn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giúp người dân áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào thực tiễn sản xuất, làm tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả, góp phần thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới. Kết quả đến hết tháng 4/2019, Trà Vinh có 40/85 xã đạt chuẩn xã nông thôn mới, chiếm tỷ lệ 47%; có 10 xã đạt từ 14 tiêu chí trở lên, chiếm tỷ lệ 11,7%; không còn xã đạt dưới 10 tiêu chí; số tiêu chí đạt bình quân/xã là 15,08 tiêu chí/xã và có 02 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn huyện nông thôn mới/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới (huyện Tiểu Cần và thị xã Duyên Hải).

Nhìn chung qua 02 năm triển khai thực hiện các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu, ứng phó rủi ro thiên tai, với nhiều giải pháp đồng bộ, gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh đã đạt được những kết quả tích cực: Tăng trưởng kinh tế GRDP tuy chưa đạt kế hoạch nhưng tốc độ tăng trưởng đứng hàng thứ 2 khu vực ĐBSCL; GRDP bình quân đầu người hàng năm tăng lên từ 39,228 triệu đồng/người/năm (năm 2017) tăng lên 43,520 triệu đồng/người/năm (năm 2018); tăng cường huy động nguồn lực, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế xã hội; nâng cấp, cải tạo và đầu tư một số công trình thích ứng với biến đổi khí hậu, phục vụ sản xuất được thực hiện thường xuyên; đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất ra các loại cây trồng, vật nuôi thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu,…

Tuy nhiên, vẫn còn một số khó khăn, hạn chế như: Việc triển khai thực chưa đi vào chiều sâu, chưa mang tính đột phá, sản xuất nông nghiệp tuy phục hồi và tăng trưởng mạnh nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro do sản xuất còn mang tính truyền thống, giá cả một số mặt hàng nông sản biến động như: tôm, dừa, thanh long, mía… ảnh hưởng đến việc tiêu thụ và tái đầu tư; công tác thủy lợi nội đồng, quản lý đê điều ở một số nơi còn lỏng lẻo, công tác tiêm phòng còn chậm; thiên tai, dịch bệnh còn những tiềm ẩn khó lường. Chất lượng các tiêu chí nông thôn mới ở một số xã còn thấp, chưa bền vững. Việc thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tác động lên nhiều phương diện nhưng vẫn còn nhiều thách thức đối với tỉnh nói riêng và cả nước nói chung; việc thu hút đầu tư tuy đạt kết quả khá nhưng một số nhà đầu tư triển khai chậm, kéo dài, nhất là dự án xử lý rác thải, điện gió.

ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI

Một là, tiếp tục phối hợp với các Sở, ngành, địa phương và đơn vị có liên quan triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh theo Kế hoạch đã được ban hành. Đồng thời, phối hợp với Bộ, ngành và đơn vị có liên quan thực thi các cơ chế chính sách, hướng dẫn thực thi triển khai thực hiện các giải pháp.

Hai là, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cấp chính quyền và người dân về thách thức đang đặt ra đối với đồng bằng sông Cửu Long nói chung và của tỉnh nói riêng; chủ động trong thích ứng với biến đổi khí hậu và các tác động khác từ thượng nguồn, kêu gọi huy động nguồn lực nhằm bảo vệ, phục hồi và trồng mới rừng, nhất là hệ thống rừng phòng hộ, rừng ngập mặn ven biển, ven sông trên địa bàn tỉnh.

Ba là, tranh thủ nguồn vốn hỗ trợ của Trung ương trong kế hoạch đầu tư công giai đoạn 2016-2020, tiếp tục thực hiện đầu tư xây dựng các Chương trình mục tiêu như: Chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội các vùng, Chương trình mục tiêu hỗ trợ vốn đối ứng ODA cho các địa phương; Chương trình mục tiêu phát triển kinh tế thủy sản bền vững; Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững; Chương trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phòng chống thiên tai, ổn định đời sống dân cư; Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh;... để cải tạo, nâng cấp, đầu tư một số dự án đê kè chống sạt lở, các tuyến đê biển, cảng cá, cung cấp nước sinh hoạt, trồng rừng phòng hộ ven biển... để phát huy hiệu quả phục vụ đa mục tiêu, đáp ứng phục vụ sản xuất trong điều kiện biến đổi khí hậu diễn ra ngày càng phức tạp.

Bốn là, nâng cao chất lượng dự báo khí tượng thủy văn, bảo đảm cảnh báo, dự báo sớm các hiện tượng thời tiết cực đoan, nhất là xâm nhập mặn, khô hạn và nước biển dâng; củng cố, nâng cao khả năng chống chịu của các công trình phòng chống thiên tai trọng điểm, cấp bách; tăng cường quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên, khoáng sản, nhất là cát lòng sông. Kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm, nhất là xỉ than và tro bay Nhà máy nhiệt điện Duyên Hải, khu công nghiệp, cơ sở sản xuất. Nâng cao chất lượng công tác đánh giá tác động môi trường trong việc sàng lọc, từ chối công nghệ sản xuất lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường trong các dự án đầu tư. Tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị số 15-CT/TU ngày 28/12/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Kế hoạch 01/KH-UBND ngày 11/01/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh gắn với Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ.

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

Đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư tham mưu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quan tâm hơn nữa trong công tác chỉ đạo, điều hành phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhất là đầu tư cơ sở hạ tầng, khu kinh tế trọng điểm ven biển, chú trọng các tuyến Quốc lộ, cao tốc, cầu Đại Ngãi, các cảng nước sâu,… và có những cơ chế, chính sách đặc thù để vực dậy tiềm năng phát triển của vùng. Đồng thời, tham mưu Chính phủ thành lập Hội đồng điều phối vùng, nhằm tạo sức mạnh tổng hợp, liên kết chặt chẽ, nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của các mặt hàng nông sản, thủy sản của vùng và chiến lược thúc đẩy phát triển thị trường để giải quyết đầu ra cho nông sản khu vực đồng bằng sông Cửu Long và cơ chế đặc thù gắn liền với liên kết của Vùng.

Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, cùng các Bộ, ngành liên quan sớm xây dựng các hệ thống cơ sở dữ liệu thống nhất liên quan đến các ngành, để làm cơ sở cho việc xây dựng các giải pháp ứng phó biến đổi khí hậu, sạt lở bờ sông, bờ biển tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long./.

 

CTTĐT


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan