Thứ 2, 04/07/2022 - 12:02
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Thủ tướng phê duyệt nhiệm vụ lập quy hoạch Vùng ĐBSCL thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 1163/QĐ-TTg phê duyệt nhiệm vụ lập quy hoạch Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL ) thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Việc lập Quy hoạch Vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021-2030tầm nhìn đến năm 2050 nhằm xác định phương hướng phát triển, sắp xếp không gian và phân bổ nguồn lực cho các hoạt động kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường có tính liên ngành, liên vùng và liên tỉnh trên cơ sở phát huy tiềm năng, thế mạnh của vùng, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực nhằm phát triển Vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2050 trở thành vùng có trình độ phát triển khá so với cả nước theo yêu cầu đề ra tại Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ.

Đồng thời, giải quyết các vấn đề mất cân đối chính trong phát triển Vùng Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm: Việc cân đối an ninh lương thực và đất lúa trong điều kiện biến đổi khí hậu; việc chuyển đổi kết cấu hạ tầng để phù hợp với chuyển đổi mô hình phát triển nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, đặc biệt là chuyển đổi sản xuất nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu tại các tiểu vùng sinh thái; xu hướng sụt giảm dân số, sự dịch chuyển của nguồn nhân lực chất lượng cao sang các địa phương khác và mặt bằng học vấn, chất lượng giáo dục-đào tạo, y tế thấp; việc quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên nước trong bối cảnh các hoạt động phát triển ở thượng nguồn sông Mekong và tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng; các vấn đề về ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái, sụt lún đất, suy giảm mực nước ngầm, xâm thực bờ biển, suy giảm tài nguyên rừng do hệ lụy từ việc phát triển kinh tế cường độ cao; tình trạng sạt lở bờ sông, bờ biển làm ảnh hưởng đến tính mạng và tài sản của người dân và ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn các công trình phòng chống thiên tai và cơ sở hạ tầng vùng ven biển.

Việc lập quy hoạch cũng nhằm cụ thể hóa và kết nối thống nhất, đồng bộ hướng tổ chức không gian và phát triển của các ngành, lĩnh vực trên phạm vi lãnh thổ của vùng được đề ra trong quy hoạch cấp quốc gia; là cơ sở để lập quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành, quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị trên phạm vi lãnh thổ vùng nhằm đảm bảo tính liên kết, đồng bộ, kế thừa, ổn định và hệ thống giữa các quy hoạch; tạo cơ sở để quản lý và thu hút đầu tư; điều phối liên kết phát triển vùng.

Nhiệm vụ lập quy hoạch vùng cũng đưa ra yêu cầu về dự báo triển vọng và nhu cầu về tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Cụ thể là dự báo xu thế biến đổi khí hậu, nước biển dâng, tác động từ các phát triển ở thượng lưu Mê Công, các vấn đề về xuyên biên giới và các loại hình thiên tai đối với toàn vùng và từng tiểu vùng;

Dự báo thay đổi của các hệ sinh thái quan trọng của vùng do tác động của biến đổi khí hậu và hoạt động phát triển trong vùng và các nước trong tiểu vùng sông Mê Công; Dự báo vấn đề an ninh nguồn nước hệ thống sông Mê Công trong bối cảnh các công trình thủy điện dự kiến được triển khai trong 20 – 30 năm tới;

Dự báo nhu cầu về khai thác, sử dụng tài nguyên nước đảm bảo cho các hoạt động kinh tế, xã hội, môi trường; Dự báo nhu cầu khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên khác của vùng (khoáng sản,…); Dự báo về quy mô và tính chất của các loại chất thải phát sinh trong kỳ quy hoạch, nhu cầu quản lý và bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường, các hệ sinh thái đặc trưng và đa dạng sinh học.

Theo đó, nội dung Quy hoạch Vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 phải bảo đảm tuân thủ quy định của Luật Quy hoạch và Nghị định số 37/2019/NĐ-CP, trong đó bao gồm các nội dung chính sau:

Một là, phân tích, đánh giá thực trạng các yếu tố, điều kiện tự nhiên, nguồn lực đặc thù của vùng; đánh giá tổng hợp điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức; các vấn đề trọng tâm cần giải quyết trong quy hoạch vùng; 

Hai là, dự báo triển vọng và nhu cầu phát triển vùng các mặt kinh tế, xã hội và môi trường và tổ chức không gian lãnh thổ; xây dựng và lựa chọn kịch bản phát triển;

Ba là, xác định quan điểm về phát triển vùng, tổ chức không gian phát triển các hoạt động kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, phát triển kết cấu hạ tầng, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường trên lãnh thổ vùng trong thời kỳ quy hoạch; 

Bốn là, xây dựng mục tiêu tổng quát phát triển vùng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, phát triển kết cấu hạ tầng, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường gắn với tổ chức không gian phát triển vùng cho thời kỳ đến năm 2030 và cho từng giai đoạn 5 năm; 

Năm là, xây dựng phương hướng phát triển ngành có lợi thế của vùng;

Sáu là, xây dựng phương án phát triển, sắp xếp, lựa chọn và phân bổ nguồn lực phát triển trên lãnh thổ vùng;

Bẩy là, phương hướng xây dựng, tổ chức không gian;

Tám là, xây dựng phương hướng phát triển kết cấu hạ tầng;

Chín là, xây dựng phương hướng bảo vệ môi trường, khai thác, bảo vệ tài nguyên nước lưu vực sông, phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu trên lãnh thổ vùng;

Mười là, xây dựng tiêu chí xác định dự án ưu tiên đầu tư; luận chứng danh mục dự án quan trọng của vùng, thứ tự ưu tiên và phân kỳ thực hiện;

Mười một là, xác định các giải pháp và dự kiến nguồn lực thực hiện quy hoạch.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan