Thứ 6, 07/10/2022 - 15:42
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Thực trạng phát triển kinh tế hợp tác và chuỗi giá trị nông sản bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu vùng Đồng bằng sông Cửu Long tại tỉnh Sóc Trăng

Trong những năm qua, kinh tế hợp tác của tỉnh Sóc Trăng ngày càng khởi sắc và có những chuyển biến theo hướng tích cực. Nhằm triển khai các nhiệm vụ thúc đẩy phát triển kinh tế hợp tác, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh đã thực hiện lồng ghép các nội dung chỉ đạo phát triển kinh tế hợp tác vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, ban hành kế hoạch hàng năm về phát triển kinh tế hợp tác, kịp thời ban hành kế hoạch chuyên đề thực hiện các đề án của Chính phủ về phát triển kinh tế hợp tác. Cụ thể như: Ban hành chính sách hỗ trợ phát triển cây ăn trái đặc sản trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2018 - 2021; Đề án Đổi mới, phát triển các hình thức tổ chức kinh tế hợp tác trong nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2015 - 2020; Đề án “Nâng cao chất lượng hoạt động HTX trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2016 - 2020”; Kế hoạch phát triển cánh đồng lớn trong sản xuất giai đoạn 2014 - 2025;  Kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định số 445/QĐ-TTg ngày 21/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Thí điểm hoàn thiện, nhân rộng mô hình hợp tác xã kiểu mới tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2016 - 2020” trên địa bàn tỉnh; Kế hoạch thực hiện phong trào thi đua “Đổi mới, phát triển các HTX nông nghiệp theo Luật Hợp tác xã năm 2012 góp phần thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2016 - 2020.

Tính đến nay, trên địa bàn tỉnh có 149 HTX nông nghiệp với 10.478 thành viên, tổng số vốn điều lệ là 63.052 triệu đồng, tổng nguồn vốn hoạt động là 115.856 triệu đồng. Trên cơ sở các tiêu chí quy định tại Thông tư 09/2017/TT-BNNPTNT ngày 17/4/2017 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hướng dẫn phân loại và đánh giá hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, đến cuối năm 2018, Sóc Trăng có 02 HTX xếp loại tốt, đạt tỷ lệ 1,74 %; 20 HTX xếp loại khá, 17,39%; 56 HTX xếp loại trung bình, chiếm tỷ lệ 48,69%; 37 HTX yếu, chiếm tỷ lệ 32,17%. Số vốn góp của thành viên HTX tăng đến nay là 4,768 tỷ đồng, vốn hoạt động là 7,908 tỷ đồng.

Triển khai thực hiện Quyết định số 445/QĐ-TTg ngày 21/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Thí điểm hoàn thiện, nhân rộng mô hình hợp tác xã kiểu mới tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2016 - 2020”, số thành viên HTX tăng thêm 1.016 thành viên (hiện nay là 1.554 thành viên so với ban đầu là 538 thành viên); vốn góp của thành viên HTX tăng 1,389 tỷ đồng (lũy kế đến nay là 4,768 tỷ đồng), vốn hoạt động là 7,908 tỷ đồng. Thực hiện mô hình thí điểm đưa cán bộ trẻ về làm việc tại các HTX, đã có 19 người được hợp đồng làm việc tại 10 HTX; có 15/15 HTX điểm liên kết với các doanh nghiệp để cung ứng vật tư đầu vào và tiêu thụ đầu ra cho thành viên HTX.

Bên cạnh đó, trong thời gian qua, địa phương đã tích cực triển khai việc hỗ trợ Hợp tác xã ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu trong nông nghiệp. Kết quả, có 04 HTX được cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hóa tập thể; 27 HTX, THT ứng dụng công nghệ (tiêu chuẩn VietGAP, ASC) vào sản xuất, trong đó, có 19 HTX, THT ứng dụng công nghệ cao trong lĩnh vực trồng trọt (VietGAP) với diện tích 545.22 ha; 08 HTX, THT nuôi tôm theo tiêu chuẩn ASC, VietGAP với diện tích 417,25 ha. Đa số sản phẩm từ các mô hình ứng dụng công nghệ cao đều có doanh nghiệp bao tiêu cho thành viên HTX, THT.

Việc triển khai hỗ trợ liên kết chuỗi giá trị nông sản bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu cũng đạt nhiều kết quả tích cực. Các sở ngành đã phối hợp  đơn vị có liên quan tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền, tập huấn, đối thoại, hội thảo và tọa đàm với các bên liên quan  như: ngân hàng, doanh nghiệp, nhà quản lý, người sản xuất (HTX, THT, nông dân), nhà khoa học,… nhằm thúc đẩy chuỗi liên kết đi vào chiều sâu và bền vững để nhân rộng.

Tính đến nay, có 26 hợp tác xã và 467 tổ hợp tác có hợp đồng liên kết với các doanh nghiệp; diện tích có hợp đồng bao tiêu khoảng 56.200 ha. Trong đó, lĩnh vực lúa gạo có trên 60 doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh tham gia ký kết hợp đồng tiêu thụ với nông dân. Lĩnh vực thủy sản có 05 HTX/THT với diện tích 197 ha liên kết với các nhà cung ứng vật tư thức ăn, thuốc, chế phẩm sinh học, giống thủy sản; 11 HTX/THT với diện tích 337 ha đã ký liên kết bán sản phẩm cho các công ty thu mua tại tỉnh. Lĩnh vực chăn nuôi có HTX Nông nghiệp Evergrowth bao tiêu toàn bộ sữa tươi cho các thành viên của HTX; bên cạnh đó, cung ứng các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật thú y, thức ăn,... cho thành viên trong chăn nuôi. Lĩnh vực cây ăn trái có nhiều HTX, THT tổ chức sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap; trong đó, đặc biệt là HTX Nông nghiệp Trinh Phú và THT Quyết Thắng đã liên kết với Công ty T&T và Công ty Chánh Thu xuất khẩu lô đầu tiên sản phẩm vú sữa sang thị trường Mỹ với số lượng 3,4 tấn, đây là một thành công bước đầu và là bước ngoặc mới cho cây ăn trái của tỉnh Sóc Trăng.

Từ những kết quả trên có thể thấy, nội dung, phương thức hoạt động của các THT, HTX có bước đổi mới; nhiều HTX làm ăn có hiệu quả, một số mô hình HTX là điển hình tiên tiến để phát huy mở rộng; kinh tế hợp tác đã phát huy hiệu quả, góp phần thực hiện tốt công tác xóa đói, giảm nghèo. Nhiều HTX đã ứng dụng có hiệu quả các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất, kinh doanh; có nhiều HTX thực hiện liên kết chuỗi sản xuất, áp dụng các quy phạm thực hành tốt theo tiêu chuẩn VietGAP, sản xuất theo tiêu chuẩn ASC, được cấp mã vùng để truy xuất nguồn gốc sản phẩm, ứng dụng tem truy xuất điện tử,... Ngoài ra, HTX còn là cầu nối giữa chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội với người nông dân trong công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần vào sự thành công của Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo hiện nay.

Bên cạnh những mặt làm được, hiện nay hoạt động của các HTX nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, cụ thể là:

- Vốn góp, vốn sản xuất kinh doanh của các HTX còn thấp; điều kiện về cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng (trụ sở làm việc, giao thông, thủy lợi,...) còn  hạn chế. Ngoài ra, do ngân sách địa phương còn khó khăn nên chưa hỗ trợ thỏa đáng trong việc đầu tư kết cấu hạ tầng đến các HTX.

- Một số HTX chưa tiếp cận được chính sách hỗ trợ, nhất là nguồn vốn tín dụng, vốn hỗ trợ phát triển HTX để mở rộng sản xuất. Khâu liên kết trong sản xuất và tiêu thụ giữa doanh nghiệp với HTX còn vướng mắc; tình hình liên kết, bao tiêu sản phẩm giữa danh nghiệp và HTX chưa thật sự bền vững; hoạt động nhiều HTX yếu kém, phương thức hoạt động chậm được đổi mới; việc xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh còn lúng túng. Một số HTX hoạt động mang tính hình thức, hoạt động cầm chừng hoặc ngưng hoạt động nhưng chưa giải thể.

- Năng lực quản lý điều hành của đội ngũ cán bộ quản lý HTX còn thấp, chưa đủ sức điều hành, quản lý HTX. Mô hình thí điểm đưa cán bộ trẻ về làm việc có thời hạn tại các hợp tác xã chưa đạt hiệu quả như mong đợi do một số HTX chưa tìm được cán bộ phù hợp; kinh phí hỗ trợ lại thấp trong khi đó HTX chưa có kinh phí để hỗ trợ thêm nên không thể giữ chân cán bộ trẻ làm việc lâu dài.

Trước những khó khăn và thách thức như trên, để duy trì, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của các HTX nông nghiệp và chuỗi giá trị nông sản bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu trong thời gian tới, tỉnh Sóc Trăng sẽ triển khai thực hiện một số giải pháp sau:

1. Tổ chức triển khai tốt Kế hoạch thực hiện Đề án phát triển 15.000 HTX hoạt động có hiệu quả theo Quyết định số 461/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

2.  Hỗ trợ, tạo điều kiện cho các HTX, THT tiếp cận các chính sách hỗ trợ để tăng cường nguồn lực và mở rộng hoạt động. Tranh thủ nguồn vốn hỗ trợ từ các chương trình, dự án, đề án để hỗ trợ cơ sở vật chất, hạ tầng cho các hợp tác xã (như: Nhà kho, lò sấy, máy móc, thiết bị,...). Tăng cường vận động, hỗ trợ thành lập mới các HTX, THT tại các vùng sản xuất lúa đặc sản theo mô hình cánh đồng lớn, vùng nuôi trồng thủy sản, vùng chuyên canh cây ăn trái.

3. Tiếp tục duy trì và mở rộng mô hình liên kết  theo hướng sạch, an toàn, phấn đấu mỗi địa phương có tối thiểu 1 mô hình. Xây dựng và phát triển các mô hình liên kết gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông sản thông qua các hợp đồng kinh tế. Đẩy mạnh hoạt động chuyển giao tiến bộ kỹ thuật công nghệ sản xuất theo quy trình VietGap, công nghệ sản xuất sinh học,... Đẩy mạnh, phát triển các HTX, tổ hợp tác liên kết sản xuất theo mô hình cánh đồng lớn tập trung; đẩy mạnh cơ giới hóa đồng bộ trong các khâu sản xuất, thu hoạch và bảo quản chế biến nông sản. Khuyến khích các HTX đầu tư, đổi mới công nghệ, thiết bị bảo quản, sơ chế, chế biến nông sản kết hợp với các biện pháp tổ chức sản xuất, tiêu thụ,... nhằm nâng cao giá trị gia tăng các sản phẩm nông nghiệp.

4. Tiếp tục thực hiện công tác tư vấn đến các HTX trong việc xây dựng phương án sản xuất kinh doanh phù hợp với điều kiện, tình hình của từng địa phương, từng lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, đặc biệt quan tâm đến các HTX hoạt động yếu. Tăng cường công tác thông tin về thị trường và dự báo thị trường nông sản để đáp ứng yêu cầu định hướng đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp và nông dân. Là cầu nối liên kết với doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ nông sản cho thành viên và nông dân sản xuất nhằm nâng cao giá trị nông sản và tăng thu nhập cho người sản xuất trong thời gian tới. Thường xuyên kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện liên kết giữa doanh nghiệp và người dân nhằm kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc và giải quyết tranh chấp theo hướng hài hòa lợi ích các bên tham gia và đảm bảo đúng quy định pháp luật.

5. Bố trí nguồn kinh phí cần thiết thông qua các hệ thống khuyến nông, khuyến công, vốn sự nghiệp khoa học công nghệ, vốn hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể để hỗ trợ các HTX, tổ hợp tác trong việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới phục vụ phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu.

Tỉnh Sóc Trăng kiến nghị các bộ ngành Trung ương:

- Xem xét, lồng ghép việc nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu trong quá trình hoạt động sản xuất của các hợp tác xã nông nghiệp thành 01 tiêu chí để đánh giá Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. 

- Sớm ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã; nghiên cứu sửa đổi một số điều của Luật Hợp tác xã (về số lượng thành viên, vốn điều lệ ở mức tối thiểu; quy định về trình độ của hội đồng quản trị, giám đốc hợp tác xã).


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan