Thứ 7, 26/09/2020 - 11:24
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

BẾN TRE

Bến Tre: Kết quả thực hiện Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu

UBND Tỉnh Bến Tre có Báo cáo số 103/BC-UBND ngày 27/03/2019 về việc báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu.

Tổ chức không gian lãnh th

Trên cơ sở Luật Quy hoạch, Nghị quyết 120/NQ-CP, Nghị quyết 11/NQ- CP về triển khai thực hiện Luật Quy hoạch, UBND tỉnh đã chỉ đạo triển khai xây dựng Nhiệm vụ lập Quy hoạch tỉnh Bến Tre thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Hiện nay, dự thảo Nhiệm vụ lập Quy hoạch tỉnh đang được đơn vị tư vấn chỉnh sửa, bổ sung lần 2. Song song đó, UBND tỉnh đã cung cấp 36 hồ sơ quy hoạch thuộc thẩm quyền quản lý của địa phương để trình Bộ Kế hoạch và Đầu tư xem xét, tổng hợp xây dựng cơ sở dữ liệu quy hoạch, cũng như làm cơ sở để xây dựng Quy hoạch vùng ĐBSCL giai đoạn 2021-2030.

Bên cạnh đó, để chuẩn bị xây dựng Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bến Tre lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020-2025, Tỉnh ủy Bến Tre cũng đang chỉ đạo khẩn trương triển khai xây dựng Tầm nhìn Chiến lược phát triển tỉnh Bến Tre trên cơ sở các mục tiêu, nhiệm vụ theo định hướng của Nghị quyết 120/NQ-CP để tạo sự phát triển đột phá, đồng thời vừa đảm bảo đặt trong tổng thể phát triển chung của cả khu vực. Đây cũng là một trong những cơ sở quan trọng để triển khai lập Quy hoạch tỉnh Bến Tre thời kỳ 2021-2030.

Ngoài ra, để nâng cao năng lực trong việc ứng phó và thích ứng với biến đổi khí hậu, từ các nguồn vốn hỗ trợ Trung ương, vốn vay ODA,... Bến Tre đã tập trung triển khai đầu tư các dự án như: Thích ứng biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Cửu Long tại Bến Tre (vốn IFAD); Hệ thống thủy lợi Bắc Bến Tre, Dự án quản lý nguồn nước tỉnh Bến Tre (JICA3), Dự án cung cấp nước cho dân cư khu vực Cù Lao Minh trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng,... Đồng thời, tỉnh thường xuyên triển khai công tác truyền thông, nâng cao nhận thức cho người dân về quản lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và thích ứng với BĐKH.

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế điều phối phát triển vùng và tiểu vùng

Xác định được tầm quan trong trong liên kết để phát triển, vì vậy các năm qua, Bến Tre luôn chủ động hợp tác với các địa phương trong vùng để phát triến kinh tế - xã hội; tích cực tham gia vào quá trình xây dựng và hoàn thiện cơ chế điều phối phát triển vùng và tiểu vùng, tham gia góp ý và đề xuất các nội dung điều chỉnh Quyết định 593/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Quy chế thí điểm liên kết phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL giai đoạn 2016-2020 cho phù hợp với điều kiện thực tiễn, nhất là trong tình hình BĐKH-NBD đang diễn ra ngày càng gay gắt, khó lường.

Bên cạnh đó, trong năm 2018, tỉnh cũng thể hiện được vai trò tiên phong trong việc phối hợp xây dựng Tầm nhìn Chiến lược Đề án phát triển bền vững các tỉnh Tiểu vùng Duyên hải phía đông ĐBSCL (gồm: Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Tiền Giang), hình thành Ban Điều hành, Tổ giúp việc thực hiện liên kết,... làm tiền đề để triển khai các hoạt động liên kết trong năm 2019 và các năm tiếp theo. Trong khuôn khổ các dự án liên kết vùng, tỉnh Bến Tre đăng ký tham gia vào 04 dự án, trong đó có 01 dự án do tỉnh chủ trì viết đề xuất (Dự án liên kết xây dựng vùng sản xuât dừa theo hướng an toàn, chất lượng cao ở các tỉnh Bên Tre, Vĩnh Long, Tiền Giang, Trà Vinh). UBND tỉnh đã trình Bộ Kế hoạch và Đầu tư Báo cáo đề xuất chủ trương thực hiện Dự án theo yêu cầu.

Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp

Trong các năm qua, Bến Tre đã tập trung thực hiện quyết liệt các giải pháp nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng giảm tỷ trọng của Khu vực I, tăng tỷ trọng của Khu vực II và III. Nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp, cơ cấu kinh tế của tỉnh qua các năm đã có sự chuyển biến rõ nét, cụ thể: năm 2015 Khu vực I chiếm 42,3%, khu vực II chiếm 22,6%, khu vực III chiếm 35,1% thì đến năm 2018, cơ cấu kinh tế đã dịch chuyển khá tích cực, với Khu vực I chiếm 32,64%, khu vực II chiếm 18,73%, khu vực III chiếm 45,36%.

Sản xuất nông nghiệp chuyển đổi cơ cấu theo hướng nâng cao giá trị, phát triển bền vững. Đề án tái cơ cấu nông nghiệp gắn với chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới được tập trung triển khai; cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển dịch theo hướng chất lượng và hiệu quả; đã hình thành một số chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp hoạt động hiệu quả như dừa, bưởi, chôm chôm,... Qua đó, đã góp phần nâng cao giá trị trên cùng một đơn vị diện tích; đặc biệt là các mô hình sản xuất thích ứng BĐKH ngày càng được nhân rộng. Diện tích chuyên canh tác lúa giảm hơn 10.000 ha để chuyển sang nuôi thủy sản ở vùng mặn, trồng các cây trồng khác có giá trị kinh tế cao hơn (dừa, cây ăn trái, rau màu, cỏ phục vụ chăn nuôi) và đất phi nông nghiệp; giảm nhanh diện tích trồng mía do hiệu quả kinh tế thấp, đến nay chỉ còn khoảng 699 ha (năm 2015 là 2.100 ha); diện tích dừa tăng từ 68.200 ha năm 2015 lên 70.900 ha năm 2018; diện tích cây ăn trái từ 27.600 ha lên 28.200 ha, nhiều THT, liên kết sản xuất theo tiêu chuẩn GAP được hình thành với các loại cây ăn trái đặc sản. Cơ cấu chăn nuôi chuyển dịch theo hướng tăng số lượng và chất lượng đàn bò, đàn bò sữa tăng nhanh; đàn gia súc và gia cầm được duy trì. Cơ cấu nuôi và khai thác thủy sản chuyển đổi theo hướng nâng cao giá trị và hiệu quả. Hệ thống dịch vụ hậu cần nghề cá phát triển ổn định, mô hình khai thác thủy sản theo tổ, đội tiếp tục được duy trì.

Sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp phát triển theo hướng sạch và thân thiện với môi trường. Trong năm 2018, có 49 doanh nghiệp, 92 cơ sở đăng ký phát triển mới, ngành nghề chủ yếu là lĩnh vực công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản, may mặc, cơ khí,... với tổng vốn đầu tư khoảng 800 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho khoảng 5.800 lao động. Ước giá trị sản xuất CN-TTCN đạt 26.750 tỷ đồng, tăng 11,19% so với năm 2017; trong đó, khu vực kinh tế trong nước tăng 10,28%. Hạ tầng các khu, cụm công nghiệp tiếp tục được quan tâm đầu tư, nhằm tạo ra giá trị sản xuất mới, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Công tác vận động thu hút đầu tư được tập trung vào các dự án sử dụng công nghệ cao, diện tích đất ít, tạo sản phẩm giá trị gia tăng cao. Ngoài ra, tỉnh cũng quan tâm hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư để sớm triển khai các dự án điện gió, điện mặt trời đã được cấp phép, nhằm tăng tỷ lệ sử dụng nguồn năng lượng sạch trong thời gian tới.

Thương mại dịch vụ duy trì được mức tăng tưởng cao; tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ năm 2018 ước đạt 41.015 tỷ đồng, tăng 15,6% so cùng kỳ; hạ tầng thương mại tiếp tục phát triển; các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm được triển khai theo kế hoạch. Hoạt động xuất nhập khẩu tăng trưởng khá, thị trường xuất khẩu tiếp tục được duy trì; kim ngạch xuất khẩu ước đạt 961,3 triệu USD, tăng 14,4% so cùng kỳ; trong đó, nhóm hàng CN-TTCN ước tăng 12,6% và chiếm 88,1% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Hoạt động du lịch có nhiều khởi sắc, cơ sở hạ tầng, cơ sở kinh doanh du lịch được quan tâm đầu tư, nâng cấp, mở rộng với nhiều loại hình, sản phẩm mới; tổng lượng khách du lịch tăng 21,9% so cùng kỳ, trong đó khách quốc tế tăng 23,9%; tổng doanh thu từ du lịch đạt 1.329 tỷ đồng, tăng 25,7% so cùng kỳ. Hoạt động ngân hàng tăng trưởng tốt, đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ sản xuất và tiêu dùng; ước đến cuối năm 2018, huy động tiền gửi đạt 33.930 tỷ đồng, tăng 16% so cuối năm 2017, cho vay 43.889 tỷ đồng, tăng 16,2%; nợ xấu được kiểm soát tốt và chỉ chiếm 0,8% tổng dư nợ; các giải pháp hỗ trợ phát triển doanh nghiệp được thực hiện tốt; Ngân hàng Chính sách xã hội phát huy tốt vai trò phục vụ các đối tượng chính sách. Các hoạt động dịch vụ vận tải, bưu chính, viễn thông tiếp tục duy trì và phát triển, đáp ứng nhu cầu phục vụ cho khách hàng.

 

CTTĐT


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan