Thứ 7, 26/09/2020 - 13:19
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

KIÊN GIANG

Kiên Giang: Kết quả thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu

UBND Tỉnh Kiên Giang có Báo cáo 109/BC-UBND ngày 23/04/2019 về kết quả thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu.

Nhiệm vụ và giải pháp của tỉnh được giao theo Nghị quyết số 120/NQ-CP vẫn đang được tổ chức triển khai thực hiện thông qua lồng ghép nội dung biến đổi khí hậu vào các nhiệm vụ đã và đang được triển khai, cụ thể như sau:

Về tuyên truyền, nâng cao nhận thức

Ủy ban nhân dân tỉnh thường xuyên chỉ đạo, triển khai công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức và trách nhiệm ứng phó và thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ tài nguyên, môi trường. Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân về những cơ hội từ quá trình chuyển đổi mô hình nhằm phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu; các thách thức đang đặt ra đối với đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Kiên Giang nói riêng, chủ động trong thích ứng với biến đổi khí hậu và các tác động từ thượng nguồn; huy động nguồn lực, thông qua các cơ quan báo chí của tỉnh, cổng thông tin điện tử tỉnh, các trang thông tin điện tử của các ngành, địa phương và 15 đài truyền thanh các huyện, thành phố tuyên truyền với nhiều hình thức đa dạng, phong phú với nhiều tin, bài, chuyên mục, phóng sự về hiểm hoạ biến đổi khí hậu, thích ứng với biến đổi khí hậu, đảm bảo an toàn trước thiên tai, sử dụng tài nguyên thiên nhiên hợp lý... Tổ chức nhiều lớp tập huấn về nâng cao năng lực phóng viên trong tuyên truyền biến đổi khí hậu và giảm thiểu tác hại thiên tai cho các cơ quan báo chí. Trong đó, tuyên truyền đầy đủ và kịp thời các sự kiện “Tuần lễ quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường”, “Ngày Nước thế giới”, “Ngàỵ Môi trường thế giới”, “Ngày Khí tượng thế giới”... Đặc biệt là sự kiện Giờ Trái đất hàng năm thu hút đông đảo nhân dân tham gia hưởng ứng. Đã cấp phép nhiều tài liệu không kinh doanh như tờ rơi, pa nô, áp phích, tập học sinh...phục vụ cho công tác tuyên truyền, trong đó, chú trọng nâng cao nhận thức của người dân về vai trò cốt lõi của các vùng đất ngập nước trong thích ứng và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu; ngăn chặn suy kiệt đất ngập nước để chống biến đổi khí hậu.

Thường xuyên chỉ đạo và định hướng tuyên truyền về biến đổi khí hậu cho các cơ quan báo chí trong các cuộc họp giao ban báo chí định kỳ. Phối hợp tổ chức cho các cơ quạu báo chí đi nghiên cứu thực tiễn, nắm tình hình phát triển kinh tế - xã hội cũng như tình hình biến đổi khí hậu, nước biển dâng, tình hình bảo vệ tài nguyên, môi trường tại các địa phương trên địa bàn tỉnh.

Về rà soát, xây dựng, triển khai các quy hoạch, kế hoạch

Tỉnh Kiên Giang đã chủ động, tập tiung chỉ đạo rà soát điều chỉnh, triển khai thực hiện các quy hoạch nhằm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết, cụ thể như sau: Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Kiên Giang đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phê duyệt tại Quyết định số 338/QĐ-TTg ngày 10/4/2018; đang tổ chức thực hiện công tác điều tra cơ bản về tài nguyên và môi trường phục vụ công tác quy hoạch không gian lãnh thổ, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý phát triển bền vũng thích ứng với biến đổi khí hậu; thực hiện 06 dự án thuộc lĩnh vực đất đai; Dự án “Điều tra đánh giá tài nguyên nước và lập Quy hoạch tài nguyên nước tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2015 -2025 và tầm nhìn đến năm 2035”; tổ chức triển khai 02 nhiệm vụ thuộc Hợp phần ứng phó biến đổi khí hậu thuộc Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh giai đoạn 2016 - 2020 gồm “Đánh giá khí hậu tỉnh Kiên Giang” và “Cập nhật Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050”. Quyết định ban hành Kế hoạch số 61/KH-UBND ngày 27/3/2018 về thực hiện Quyết định số 2053/QĐ-TTg ngày 28/10/2016 của Thủ tưóng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. Hoàn thành các chương trình đề án theo Chương trình hành động của Tỉnh ủy, gồm: Dự án rà soát, điều chỉnh Quy hoạch nông nghiệp - nông thôn gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Kiên Giang đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030; Đe án phát triển giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản trên địa bàn tỉnh Kiên Giang; Chương trình phát triển rừng sản xuất làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ; Chương trình phát triển nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp vùng Tứ giác Long Xuyên và vùng U Minh Thượng; thực hiện kết luận của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 05/NQ/TU ngày 27/02/2013 của Tỉnh ủy Kiên Giang về việc xây dựng nông thôn mới đến năm 2020; Dự án xây dựng Trung tâm Nghề cá của tinh Kiên Giang gắn với ngư trường biển Tây Nam; Dự án rà soát, điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp tỉnh Kiên Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; Quy hoạch nông nghiệp huyện Phú Quốc đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030. Ngoài ra, tỉnh đang tiếp tục xây dựng các đề án, dự án: Đề án quản lý nghề lưới kéo trên địa bàn tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2016 - 2020; Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững, hiệu quả; Dự án “Khu phức hợp ứng dụng công nghệ cao phát triển chuỗi tôm hiệu quả và bền vững tại tỉnh Kiên Giang"; Dự án “Điều tra các nghề khai thác vùng biển ven bờ và vùng lộng biển Kiên Giang; đề xuất sắp xếp lại cơ cấu nghề khai thác vùng biển ven bờ và vùng lộng biển Kiên Giang”; Dự án đầu tư phát triển giống gia súc, gia cầm tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2018 - 2020. Công tác quy hoạch phát triển du lịch cũng được chú trọng, bước đầu tạo điều kiện thuận lợi cho khai thác, phát huy tiềm năng, thế mạnh, tài nguyên du lịch của tỉnh và góp phần quan trọng cho quản lý đầu tư phát triển du lịch thích ứng với biến đổi khí hậu và phù hợp vói Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. về quy hoạch lĩnh vực văn hóa, di tích lịch sử: Đang điều chỉnh Quy hoạch khu di tích lịch sử núi Bình San làng Mạc Cửu và thắng cảnh Mo So mục tiêu không chỉ bảo tồn, tôn tạo di tích mà còn gắn với phát triển du lịch và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Các nhiệm vụ khác

Được sự quan tâm chỉ đạo, đầu tư của Chính phủ và sự hỗ. trợ của các Bộ, ngành Trung ương, nhìn chung, ngành du lịch Kiên Giang trong thời gian qua chuyển biến tích cực, đóng góp ngày càng lớn cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Kết cấu hạ tầng phục vụ cho du lịch tiếp tục được quan tâm đầu tư nâng cấp và phát triển, trong đó có một số công trình rất quan trọng như sân bay, cảng biển, hệ thống cấp điện, cấp nước sạch, hệ thống giao thông đường bộ,... tạo điều kiện cho du lịch phát triển; các chỉ tiêu về lượt khách, doanh thu liên tục tăng trưởng, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế của tỉnh, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Tỉnh đã chú trọng phát triển mạnh loại hình du lịch sinh thái biển đảo, các tuyến du lịch liên vùng và quốc tế đồng thời quảng bá sản phẩm du lịch đồng bằng sông Cửu Long nói chung và sản phẩm du lịch tỉnh Kiên Giang ra thế giới. Ngoài ra, tỉnh đã thực hiện lồng ghép việc quản lý các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh ứng phó biến đổi khí hậu vào Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội chung của tỉnh gắn với mục tiêu phát triển bền vững, đang triển khai thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình bảo tồn di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh tỉnh Kiên Giang với tổng kinh phí 35.999.726.000 đồng. Bao gồm việc tu bổ: Chùa Tổng Quản (huyện Gò Quao), chùa Quan Đế, chùa Láng Cát (thành phố Rạch Giá), đình thần Thạnh Hòa (huyện Giồng Riềng) đình thần Phú Hội, di tích khảo cổ học Nền Chùa (huyện Tân Hiệp), chùa Sóc Xoài (huyện Hòn Đất), chùa Cái Bần (huyện Gò Quao), chùa xẻo Cạn (huyện u Minh Thượng), thắng cảnh Ba Hòn (huyện Kiên Lương).

Về hạ tầng giao thông, chủ động rà soát, xây dựng, triển khai và thực hiện các quy hoạch, kế hoạch phát triển chuyên ngành phù họp với điều kiện nguồn lực cụ thể, chủ động thích ứng với biên đôi khí hậu và nước biên dâng; tập trung nguồn lực để từng bước đầu tư hoàn chỉnh hệ thống đường tỉnh theo quy hoạch được phê duyệt, ưu tiên đầu tư trước các công trình có tích hợp thực hiện giải pháp nâng cao khả năng chống chịu biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

Thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Kiên Giang theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững giai đoạn 2017 — 2020, đến nay kết quả đạt được như sau: Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản giai đoạn 2017 - 2018 đạt 5,06% (kế hoạch năm 2020 là 4 - 5%). Tỷ trọng GRDP của ngành chiếm 34,53% toàn tỉnh, giảm 0,76% so với năm 2017 (năm 2017 là 35,29%) và giảm 0,47 - 1,47% so với kế hoạch đến năm 2020 (năm 2020 là 35 - 36%). Cơ cấu tỷ trọng trong nội bộ ngành (năm 2018 so với năm 2017), lĩnh vực nông nghiệp 1,99%, thủy sản tăng 8,14%, lâm nghiệp ổn định. Giá trị sản xuất trên 01 ha đất sản xuất nông nghiệp: Năm 2018 giá trị sản phẩm thu được trên 01 ha đất trồng trọt đạt 76,92 triệu đồng/ha/năm (năm 2017 là 70,49 triệu đồng/ha/năm, kế hoạch năm 2020 là 100 triệu đồng/ha/năm), giá trị sản phẩm thu được trên 01 ha đất mặt nước nuôi trồng thủy sản đạt 115,56 triệu đồng/ha/năm (năm 2017 là 118,26 triệu đồng/ha/năm, kế hoạch năm 2020 là 130 triệu đồng/ha/năm). Tỷ lệ che phủ rừng đạt 10,96% (kế hoạch đến năm 2020 đạt 12%).

Đến cuối năm 2018, toàn tỉnh có 51/117 xã và 01 huyện đạt chuẩn huyện nông thôn mới; đến nay toàn tỉnh bình quân đạt 16,5 tiêu chí/xã (tăng 2 tiêu chí/xã so với năm 2017), có 58 xã đạt 19 tiêu chí (kế hoạch đến năm 2020 có 59/117 xã). Chỉ còn 01 xã đạt 9 tiêu chí và các xã còn lại đạt từ 10 tiêu chí trở lên.

Thực hiện điều chỉnh quy hoạch 03 loại rừng giai đoạn 2016 - 2020 theo hướng duy trì hợp lý diện tích rừng đặc dụng và phòng hộ, điều chỉnh một phân diện tích rừng sản xuất kém hiệu quả sang sản xuất nông nghiệp. Độ che phủ rừng ổn định giai đoạn 2015 - 2017 là 10,96%, đạt 91,33% so với kế hoạch năm 2020 (kế hoạch đến năm 2020 đạt 12%). Qua quá trình thực hiện, diện tích trồng rừng mới mỗi năm một tăng, trong đó trồng rừng phòng hộ ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu (năm 2015 là 378 ha, năm 2016 la 1.240 ha, năm 2017 là 400 ha, năm 2018 là 81 ha). Khoản bảo vệ rùng vẫn được duy trì hàng năm bình quân 4.000 ha/năm. Phong trào trồng rừng sản xuất và trồng cây phân tán từng bước được phục hồi nhằm cung cấp nguyên liệu cho Nhà máy gỗ MDF Kiên Giang công suất 75.000 m3/năm đã đi vào hoạt động, bước đầu mang lại hiệu quả. Đẩy mạnh các hoạt động xã hội hóa nghề rừng thông qua hình thức liên doanh liên kết, cho thuê môi trường rừng kết hợp du lịch sinh thái gắn với quản lý bảo vệ và phát triển rừng. Đến nay, toàn tỉnh có 26 dự án cho thuê môi trường rùng và liên doanh liên kết, tuy mới bắt đầu triển khai nhưng đã góp phần cùng với chủ rừng tăng cường công tác quản lý bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng. Thực hiện ứng dụng các công nghệ tiên tiến như thông tin viễn thám và kỹ thuật thông tin địa lý (GIS) đánh giá diễn thế rừng, đất đai; tài nguyên động, thực vật; theo dõi giám sát diễn biến tài nguyên rừng. Đồng thời, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật xây dựng mô hình quản lý và điều tiết nước hàng năm một cách hợp lý để tạo điều kiện thích họp trong việc phục hồi và phát triển rừng tràm nguyên sinh Vườn Quốc gia u Minh Thượng. Triển khai Đề án nâng cao năng lực phòng cháy chữa cháy rừng tỉnh Kiên Giang, đã tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và mua sắm trang thiết bị phục vụ phòng cháy chữa cháy rùng.

Trong nội bộ ngành nông nghiệp đã có sự chuyển dịch từ trồng lúa một vụ năng suất thấp sang nuôi trồng thủy sản, phát triển lúa + tôm nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập cho người dân. Đã chuyển đổi từ cơ cấu 02 vụ lúa Đông Xuân - Hè Thu sang cơ cấu 03 vụ lúa: Đông Xuân - Hè Thu - Thu Đông ở những diện tích có đê bao kiểm soát lũ đảm bảo ở các huyện thuộc vùng Tây Sông Hậu (Giồng Riềng, Tân Hiệp) và ở vùng Tứ giác Long Xuyên (Hòn Đất). Riêng khu vực ven biển vùng u Minh Thượng và Tứ giác Long Xuyên chuyển đổi sang phát triển mô hình tôm - lúa cho hiệu quả kinh tế cao. Ngoài ra, chuyển đổi từ đất 02 vụ lúa sang phát triển mô hình lúa - màu ở Giang Thành, Hòn Đất thuộc vùng Tứ giác Long Xuyên, ở Vĩnh Thuận thuộc vùng u Minh Thượng, ở Giồng Riềng thuộc vùng Tây Sông Hậu nhưng quy mô không lớn do hạn chế về thị trường tiêu thụ.

Thực hiện cơ cấu chăn nuôi hàng hóa theo hình thức trang toại, toàn tỉnh có 87 trang trại, còn lại là nuôi theo hộ gia đình chăn nuôi heo, bò, gia cầm. Đến nay, có 16 cơ sở giết mổ gia súc tập trung thuộc thị xã, thị trấn, thành phố và. 29 cơ sở giết mô gia súc tập trung thuộc các xã, 48 điểm giết mổ kiểm tra đóng dấu kiểm soát giết mổ tại chợ thuộc vùng nông thôn, 06 cơ sở giết mổ gia cầm tập trung thuộc phường, thị trấn, thành phố được bố trí riêng biệt trong cơ sở giết mổ gia súc. Thông qua hệ thông đã kiểm soát, giết mổ trên 90% lưọng sản phẩm động vật phục vụ nhu cầu tiêu thụ hàng ngày của tỉnh, so với trước năm 2017 chỉ kiểm soát được 70%.

Tổ chức lại khai thác hải sản theo hướng giảm dần tàu thuyền có công suất nhỏ khai thác ven bờ, phát triển tàu có công suất lớn đánh bắt xa bờ, góp phần bảo vệ an ninh chủ quyền vùng biển quốc gia. Phát triển nhanh hình thức nuôi tôm bán thâm canh, thâm canh, công nghiệp, nuôi cá lồng bè. Tăng diện tích nuôi tôm công nghiệp - bán công nghiệp vùng Tứ giác Long Xuyên và tăng năng suất tôm - lúa vùng U Minh Thượng. Đẩy mạnh đầu tư phát triển cơ sở sản xuất tôm giống phục vụ sản xuất, đến nay sản lượng tôm giống đáp ứng khoảng 30% nhu cầu con giống nuôi. Tùng bước áp dụng công nghệ trong nuôi tôm để chuyển nuôi tôm từ phương thức quảng canh, quảng canh cải tiến sang nuôi tôm công nghiệp - bán công nghiệp ở những nơi có điêu kiện; ứng dụng các quy trình thực hành sản xuất tốt theo tiêu chuẩn quốc tế và quốc gia trong nuôi tôm như GAP, GlobalGAP...

Các mô hình tổ chức sản xuất tiếp tục được củng cố và kiện toàn. Đến nay, toàn tỉnh có 356 hợp tác xã, có 28.787 thành viên, diện tích 51.662 ha; 2.153 Tổ hợp tác, có 48.730 tổ viên, diện tích 74.309 ha; 1.044 trang trại (trong đó 907 trang trại trồng trọt, 86 trang trại nuôi trông thủy sản, 48 trang toại chăn nuôi và 7 trang trại tổng hợp), đã cấp giấy chứng nhận kinh tế toang toại cho 65 trang toại đạt tiêu chí theo Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT, ngày 13/4/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Thu nhập bình quân một trang trại đạt 1.414,975 triệu đồng/năm.

Thực hiện cánh đồng lớn gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm từ 62.539 ha vào năm 2017 tăng lên gần 75.000 ha năm 2018. Có 21 doanh nghiệp, hộ kinh doanh liên kết sản xuất kinh doanh, hỗ trợ giúp cho nông dân ổn định đầu vào sản xuất và đầu ra sản phẩm. 100% diện tích tham gia cánh đồng lớn áp dụng 1 phải - 5 giảm, sử dụng giống đạt phẩm cấp, giảm lượng giống gieo sạ theo tập quán từ 180 - 250 kg/ha, áp dụng sạ thưa xuống còn 80 - 120 kg/ha. Tổng lượng giống sản xuất theo cánh đồng lớn giảm khoảng trên 5.600 tấn/năm, tổng chi phí giống giảm khoảng trên 67 tỷ đồng/năm. Nông dân sản xuất lúa được ký kết tiêu thụ đảm bảo lợi nhuận 40%.

Nghiên cứu thành công việc chọn, tạo, nhân giống lúa bằng phương pháp hiện đại trong công nghệ sinh học...có thời gian sinh trưởng ngắn, thích nghi với điều kiện biến đổi khí hậu, có khả năng chống chịu mặn, chống chịu tốt với dịch bệnh, cho năng suất cao, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu để bổ sung vào cơ cấu giống lúa của tỉnh như: GKG1, GKG9. Nông dân ứng dụng sản xuất các giống lúa năng suất cao, chất lượng gạo tốt ngày càng tăng, tỷ trọng lúa chất lượng cao toàn tỉnh tăng dần từ 70% năm 2015 lên 71% năm 2016 và lên 75,13% năm 2018, các giống chủ lực như: OM 5451, OM 4900, Jasmin 85,... Bên cạnh đó, tỉnh đã phê duyệt, chỉ đạo triển khai một số nhiệm vụ khoa học và công nghệ nghiên cứu sản xuất các giống lúa chịu mặn, xây dựng các quy trình nuôi thương phẩm và sản xuât giống một số loài thủy sản phục vụ người dân nâng cao giá trị sản xuất trong điều kiện biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn; một số nhiệm vụ bảo tồn các nguồn gen động, thực vật trên địa bàn tỉnh; một số nhiệm vụ phục vụ phát hiển du lịch biển, du lịch sinh thái hên địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, cũng tham mưu xây dựng và triển khai một số đề án, kế hoạch có liên quan phục vụ phát hiển sản xuất nông nghiệp, thế mạnh của tỉnh.

 

CTTĐT


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan
Đang chờ cập nhật