Thứ 7, 26/09/2020 - 13:05
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

TRÀ VINH

Trà Vinh: Tình hình thực hiện NQ số 120/NQ-CP về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với BĐKH trên địa bàn tỉnh

UBND tỉnh Trà Vinh có Báo cáo sô 60/BC-UBND ngày 29/03/2019 về tình hình thực hiện NQ số 120/NQ-CP về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với BĐKH trên địa bàn tỉnh.

Đánh giá kết quả thực hiện

Qua hơn 01 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về phát triển bền vũng đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu đã được tập trung triển khai với nhiều giải pháp đồng bộ, gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh đã đạt được những kết quả tích cực: Tăng trưởng kinh tế GRDP tuy chưa đạt kế hoạch nhưng tốc độ tăng trưởng đứng hàng thứ 2 khu vực ĐBSCL; GRDP bình quân đầu người hàng năm tăng lên từ 39,228 triệu đồng/người/năm (năm 2017) tăng lên 43,520 triệu đồng/người/năm (năm 2018) việc triển khai thực hiện 06 nhiệm vụ tập trung, 03 nhiệm vụ đột phá có những chuyển biến tích cực; hoàn chỉnh công tác điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Trà Vinh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; tăng cường huy động nguồn lực, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế xã hội; thực hiện tốt công tác phối hợp theo Quyết định số 593/QĐ-TTg ngày 06/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ; công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tài nguyên nước và khoáng sản được quan tâm triển khai thực hiện; kiểm tra, giám sát chặt chẽ các nguồn thải từ Trung tâm Điện lực Duyên Hải; nâng cấp, cải tạo và đầu tư một số công trình thích ứng với biến đổi khí hậu, phục vụ sản xuất được thực hiện thường xuyên; đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuât ra các loại cây trông, vật nuôi thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu,...

Tuy nhiên, vẫn còn một số khó khăn, hạn chế như: Việc triển khai thực hiện Nghị quyết tuy có quan tâm triển khai thực hiện nhưng chưa đi vào chiều sâu, chưa mang tính đột phá, kinh tế tăng trưởng thấp chưa đạt kế hoạch, sản xuất nông nghiệp tuy phục hồi và tăng trưởng mạnh nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro do sản xuất còn mang tính truyền thống, giá cả một số mặt hàng nông sản biến động như: tôm, dừa, thanh long, mía... ảnh hưởng đến việc tiêu thụ và tái đầu tư; công tác thủy lợi nội đồng, quản lý đê điều ở một số nơi còn lỏng lẻo, công tác tiêm phòng còn chậm; thiên tai, dịch bệnh còn những tiềm ẩn khó lường. Chất lượng các tiêu chí nông thôn mới một số nơi còn thâp, chưa đồng đều. Việc thực hiện cuộc các mạng công nghiệp lần thứ 4 tác động trên nhiều phương diện nhưng vẫn còn nhiều thách thức đối với tỉnh nói riêng và cả nước nói chung; việc thu hút đầu tư tuy đạt kết quả khá nhưng một số nhà đầu tư triển khai chậm, kéo dài nhất là dự án xử lý rác thải, điện gió; đồng thời việc ban hành, cơ chế chính sách, hướng dẫn thực thi kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình tổng thể phát triển nông nghiệp bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu theo Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ của các Bộ, ngành Trung ương còn chậm nên việc triển khai thực hiện trên địa bàn tỉnh chưa thống nhất, kết quả đạt được chưa cao.

Kế hoạch, giải pháp thực hiện trong thời gian tới

Tiếp tục chi đạo các Sờ ngành, địa phương và đơn vị có liên quan triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh Trà Vinh theo Kế hoạch đã được ban hành. Đồng thời, phối hợp với Bộ, ngành và đơn vị có liên quan thực thi các cơ chế chính sách, hướng dẫn thực thi triển khai thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ khi được ban hành.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cấp chính quyền và người dân về thách thức đang đặt ra đối với đồng bằng sông Cửu Long nói chung và của; tỉnh nói riêng; chủ động trong thích ứng với biến đổi khí hậu và các tác động khác từ thượng nguồn, kêu gọi huy động nguồn lực nhằm bảo vệ, phục hồi và trồng mới rừng, nhất là hệ thống rừng phòng hộ, rừng ngập mặn ven biển, ven sông trên địa bàn tinh.

Trong năm 2019, chủ trì và phối hợp với các tỉnh: Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long thực hiện hiệu quả Quyết định số 593/QĐ-TTg ngàỵ 06/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ trong triển khai thực hiện Đề án "Liên kết phát triển bền vững Tiểu vùng duyên hải phía Đông đồng bằng sông Cửu Long

Tranh thủ nguồn vốn hỗ trợ của Trung ương trong kế hoạch đầu tư công giai đoạn 2016-2020 tiếp tục thực hiện đầu tư xây dựng các Chương trình mục tiêu như: Chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội các vùng, Chương trình mục tiêu hỗ trợ vốn đối ứng ODA cho các địa phương; Chương trình mục tiêu phát triển kinh tế thủy sản bền vững; Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững; Chương trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phòng chống thiên tai, ổn định đời sống dân cư; Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh;.... để cải tạo, nâng cấp, đầu tư một số dự án đê kè chống sạt lở, các tuyến đê biển, cảng cá, cung cấp nước sinh hoạt, trồng rừng phòng hộ ven biển.... để phát huy hiệu quả phục vụ đa mục tiêu đáp ứng phục vụ sản xuất trong điều kiện biến đổi khí hậu diễn ra ngày càng phức tạp hiện nay.

Triển khai lồng ghép các mục tiêu tăng trưởng xanh trong lập kế hoạch phát triên kinh tế - xã hội. Nâng cao chất lượng dự báo khí tượng thủy văn, bảo đảm cảnh báo, dự báo sớm các hiện tượng thời tiết cực đoan, nhất là xâm nhập mặn, khô hạn và nước biển dâng; củng cố, nâng cao khả năng chống chịu của các công trình phòng chống thiên tai trọng điểm, cấp bách; tăng cường quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên, khoáng sản, nhất là cát lòng sông. Kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm, nhất là xỉ than và tro bay Nhà máy nhiệt điện Duyên Hải, khu công nghiệp, cơ sở sản xuất. Nâng cao chất lượng công tác đánh giá tác động môi trường trong việc sàng lọc, từ chối công nghệ sản xuất lạc hậu, gây ô nhiêm môi trường trong các dự án đầu tư. Kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiêm môi trường; khuyên khích các cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm đổi mới công nghệ thân thiện với môi trường. Tăng cường các biện pháp xử lý chất thải rắn, chất thải công nghiệp, chất thải độc hại và chất thải y tể; đẩy nhanh tiến độ xử lý triệt đê các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị số 15-CT/TU ngày 28/12/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Kế hoạch 01/KH-UBND ngày 11/01/2017 của ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh gắn với Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ.

 

CTTĐT


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan