Chủ nhật, 27/09/2020 - 19:52
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tình hình thu hút nguồn lực ứng phó với BĐKH và tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL

Thực hiện nhiệm vụ về thu hút và bố trí, cân đối nguồn lực cho vùng đồng bằng sông Cửu Long theo nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có Quyết định số 337/QĐ-BKHĐT ngày 26/3/2018 về việc ban hành kế hoạch hành động triển khai Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017. Theo đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã rà soát việc giao kế hoạch và giải ngân các dự án đầu tư công, trong đó rà soát và báo cáo Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh các dự án sử dụng ODA, đồng thời rà soát, điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn cho vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) giai đoạn 2016-2020.

1. Vốn bố trí cho Đồng bằng Sông Cửu Long

a. Vốn đầu tư cho đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thuộc Chương trình mục tiêu Ứng phó với Biến đổi khí hậu và Tăng trưởng Xanh: Cho đến năm 2018, tổng số vốn đã bố trí cho các dự án Biến đổi khí hậu Đồng bằng sông Cửu Long là 2.932 tỷ.

Chương trình mục tiêu Biến đổi khí hậu và Tăng trưởng Xanh giai đoạn 2016 - 2020: Tổng vốn đầu tư NSTW là 15.000 tỷ, dự kiến cho ĐBSCL là 4.751 tỷ đồng (31,3%). Trong đó, bố trí cho các dự án chuyển tiếp là 1.550 tỷ đồng, các dự án khởi công mới là 3.201 tỷ đồng.

b. Về vốn đầu tư chống sạt lở cấp bách:

Năm 2018 đã giao 1.500 tỷ từ nguồn dự phòng ngân sách năm 2018. Đang báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội giao 1.000 tỷ từ dự phòng trung hạn cho các dự án sạt lở cấp bách ĐBSCL.

c. Theo kết quả sàng lọc của Nghiên cứu đánh giá Chi tiêu công cho BĐKH và TTX tại 13 tỉnh ĐBSCL, tổng vốn đầu tư cho BĐKH và TTX của 13 tỉnh ĐBSCL trong 5 năm 2016-2020 là khoảng 57.416 tỷ, trong đó: Vốn Trung ương là: 30.826 tỷ (53,7%); Vốn địa phương là: 24.641 tỷ (42,9%); Vốn Trái phiếu chính phủ (bao gồm cả Trung ương và địa phương) là: 1.949 tỷ (3,4%).

2. Khả năng tiếp cận các nguồn vốn Tài chính khí hậu cho Đồng bằng Sông Cửu Long.

- Quỹ Khí hậu xanh (GCF): Quỹ Khí hậu xanh (GCF) được thành lập năm 2010 tại Hội nghị Các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP16) nhằm huy động các nguồn tài trợ cho đầu tư phát triển ít phát thải và ứng phó với biến đổi khí hậu ở các nước đang phát triển. Các lĩnh vực chiến lược của GCF là năng lượng, giao thông, xây dựng, đô thị, công nghiệp và thiết bị, sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và rừng (LULUCF), tăng cường khả năng chống chịu và phúc lợi cho các cộng đồng, dân cư và khu vực dễ bị tổn thương, nâng cao chất lượng y tế, phúc lợi, an ninh nước và lương thực, tăng cường khả năng chống chịu của cơ sở hạ tầng và môi trường, tăng cường khả năng chống chịu của hệ sinh thái và dịch vụ hệ sinh thái. Quỹ GCF đã nhận được cam kết đóng góp là 10,3 tỉ USD.

Tính đến nay, Bộ KH&ĐT với tư cách là cơ quan đầu mối về Quỹ khí hậu Xanh (GCF) đã tích cực phối hợp với các cơ quan liên quan huy động gói viện trợ không hoàn lại cho 03 dự án với tổng trị giá 116,1 triệu đô la Mỹ. Hiện nay Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang đề nghị Quỹ GCF xem xét cung cấp viện trợ không hoàn lại cho 4 dự án trị giá 270 triệu đô la Mỹ nhằm tăng cường quản lý hiệu quả nguồn nước và tăng cường khả năng chống chịu với BĐKH cho các hộ nông dân nghèo khu vực miền trung Tây nguyên và đồng bằng sông Cửu Long, giảm phát thải khí nhà kính ở khu vực Tây Nguyên. Trong đó có 02 dự án cho ĐBSCL của Bộ NN&PTNT phối hợp với GiZ và NHTG trị giá khoảng 100 triệu USD.

- Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF): GEF được thành lập để giải quyết các vấn đề môi trường toàn cầu bao gồm 183 quốc gia thành viên. GEF đã hỗ trợ 16,39 tỷ USD cho hơn 4.641 dự án tại 165 quốc gia đang phát triển. GEF là một tổ chức độc lập, cung cấp các khoản viện trợ trong các lĩnh vực: đa dạng sinh học, giảm thiểu biến đổi khí hậu, hóa chất và chất thải, suy thoái đất, quản lý rừng bền vững, và các hoạt động bên lề khác. Tuy nhiên, trong Chu kỳ tài trợ 7 (GEF7, từ 01/7/2018-30/6/2022) thì tổng số vốn dự kiến cho Việt Nam chỉ ở mức rất khiêm tốn là 18,01 triệu đô la Mỹ. Như vậy, Việt Nam cần tăng cường tiếp cận và chủ động hơn trong việc phối hợp và đề xuất các hoạt động vùng và toàn cầu để tăng thêm nguồn vốn cho Việt Nam từ Quỹ này. 

- Tín dụng xanh: Với nguồn tín dụng xanh, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã chủ động lồng ghép, xây dựng các giải pháp, chương trình tín dụng nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thực hiện các dự án góp phần bảo vệ môi trường, hỗ trợ TTX và phát triển bền vững. 

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành những văn bản quan trọng trong giai đoạn 2015-2017 về tín dụng xanh, gồm: Chỉ thị số 03/CT-NHNN, ngày 24/03/2015 về thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường, xã hội trong hoạt động cấp tín dụng; Quyết định số 1552/QĐ-NHNN, ngày 06/08/2015 ban hành Kế hoạch hành động của ngành ngân hàng thực hiện Chiến lược Quốc gia về TTX đến năm 2020; Xây dựng và triển khai các chương trình tín dụng đặc thù góp phần sử dụng tài nguyên tiết kiệm, hiệu quả, tạo sinh kế và nâng cao mức sống của người dân.

Trong giai đoạn 5 năm từ 2012-2017, Ngân hàng Nhà nước đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan đàm phán, ký kết 31 chương trình, dự án dành cho các bộ, ngành và UBND các tỉnh nâng cao năng lực tài chính cho các tổ chức tín dụng thực hiện tín dụng xanh thông qua các chương trình, dự án, hỗ trợ kỹ thuật về thích ứng với biến đổi khí hậu như vấn đề môi trường đô thị, bảo tồn đa dạng sinh học, nâng cao chất lượng và an toàn cho sản phẩm nông nghiệp…

+ Nguồn lực từ các đối tác tham gia Diễn đàn P4G (Diễn đàn Đối tác Toàn cầu về Tăng trưởng Xanh) với tư cách là một trong số các quốc gia sáng lập (căn cứ văn bản số 7110/VPCP-QHQT ngày 07/7/2017, Bộ Kế hoạch và Đầu tư được giao chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tham dự Diễn đàn và triển khai các hoạt động liên quan). Ngày 20/10/2018, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã tham dự, phát biểu tại Hội nghị Thượng đỉnh P4G và ký kết Cam kết Hành động Copenhagen 2018. Về mặt huy động nguồn lực, Việt Nam đã huy động thành công 01 dự án “Nâng cao đầu tư năng lượng sạch ở Việt Nam” với tổng số tiền 600.000 đô la Mỹ, và 02 dự án về (1) Đối tác hành động xây dựng các mô hình tài chính thu hút nguồn lực hỗ trợ cơ sở hạ tầng nước uống tại Việt Nam và (2) Đối tác thực hiện mô hình thị trường Vật liệu Pathway21 nhằm hỗ trợ các nhà sản xuất của Việt Nam giảm chất thải và sử dụng quá mức vật liệu trong sản xuất thông qua một hệ thống giao dịch vật liệu trực tuyến dựa trên công nghệ đám mây với tổng số tiền 200.000 đô la Mỹ. Trong thời gian tới, Việt Nam và các tỉnh ĐBSCL cần tích cực nghiên cứu nhu cầu và đề xuất phù hợp để kêu gọi tài trợ và đầu tư từ các đối tác tham gia P4G.

Các lĩnh vực thuộc danh sách tiếp nhận viện trợ của GCF, GEF cũng là các lĩnh vực mà ĐBSCL đang rất quan tâm và ưu tiên phát triển. Việc thu hút được các khoản viện trợ từ các nguồn tài chính khí hậu cũng như tín dụng xanh sẽ bổ sung thêm một nguồn vốn rất lớn khác bên cạnh các nguồn vốn từ Ngân sách nhà nước để thúc đẩy sự phát triển của vùng ĐBSCL.

Ngoài ra đối với mỗi ngành lĩnh vực cũng có những giải pháp cụ thể để khơi thông nguồn vốn, ví dụ:

Đối với lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản và hướng tới 2025, một số giải pháp chính sách lớn để thu hút đầu tư vào lĩnh vực bao gồm:

i)  Kiến tạo phát triển bền vững, trên cơ sở chủ động thích ứng, chuyển hoá được những thách thức, biến thách thức thành cơ hội, bảo đảm được cuộc sống ổn định và khá giả của người dân cũng như bảo tồn được những giá trị truyền thống, văn hoá của đồng bằng sông Cửu Long; ii) Thay đổi tư duy phát triển, chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp thuần túy sang tư duy kinh tế nông nghiệp, từ số lượng sang chất lượng gắn với chuỗi giá trị; từ sản xuất nông nghiệp hóa học sang nông nghiệp hữu cơ và công nghệ cao. Chú trọng công nghiệp chế biến và công nghiệp hỗ trợ gắn với phát triển kinh tế nông nghiệp;

iii) Chọn mô hình thích ứng theo tự nhiên, tránh can thiệp thô bạo vào tự nhiên, phát triển bền vững theo phương châm chủ động sống chung với lũ, sống chung với mặn, khô cạn, thiếu nước, phù hợp với điều kiện thực tế; iv) Cải thiện các thủ tục hành chính theo hướng đơn giản hoá, áp dụng các công cụ của chính phủ điện tử; v) Xây dựng vùng nguyên liệu cho sản xuất nông lâm thuỷ sản: Xây dựng cánh đồng mẫu lớn và liên kết sản xuất tiêu thụ theo chuỗi. Đề xuất này có thể được thực hiện theo hướng dẫn của nghị định 98 (98/2018/NĐ-CP, 5/7/2018 về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp); Xây dựng các mô hình HTX, công ty phát triển nông nghiệp với cánh đồng mẫu lớn, đại diện cho doanh nghiệp hoặc tay nối của doanh nghiệp trong triển khai sản xuất theo quy trình GAPs, đồng bộ sản phẩm và chuỗi khép kín để đạt chất lượng sản phẩm cao và ổn định; Cho phép xây dựng mô hình ngân hàng đất nông nghiệp; v)  Hỗ trợ người dân nhiều hơn các thủ tục vay ngân hàng thông qua việc có các hướng dẫn từ các văn phòng xúc tiến đầu tư; vi) chính phủ tác động chính sách tăng giá trị đất nông nghiệp và các tài sản sản xuất nông nghiệp để từng bước nâng hạn ngạch cho vay đối với người dân có nhu cầu mở rộng sản xuất vi) Tăng cường công tác chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất từ các đơn vị sở hữu, tăng sự liên kết tác quyền cho những doanh nghiệp nhỏ để ươm màu cho các doanh nghiệp phát triển, đồng thời xây dựng các điểm trình diễn công nghệ ở cấp tỉnh để giúp người dân và doanh nghiệp tiếp cận được các công nghệ nhanh nhất. Tiêu chuẩn hoá công nghệ, quy trình sản xuất để dần dần nâng cao mặt bằng công nghệ, xã hội hoá công nghệ, đặc biệt là các công nghệ chọn tạo giống để sản phẩm được cải thiện chất lượng nhanh nhất có thể./.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan