Thứ 7, 26/09/2020 - 11:35
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tình hình đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông và phương hướng phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long, giải pháp phát triển hệ thống giao thông kết nối thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh ĐBSCL

Vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bao gồm 13 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, là vùng đất rộng lớn chiếm 12% diện tích, 19% dân số cả nước, mạng lưới sông, kênh, rạch dày đặc; có lợi thế về phát triển nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, du lịch, năng lượng tái tạo; là trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn nhất của Việt Nam: đóng góp 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản và 70% các loại trái cây của cả nước; 95% lượng gạo xuất khẩu và 60% sản lượng cá xuất khẩu; có vị trí thuận tiện trong giao thương với các nước ASEAN và Tiểu vùng sông Mê Công... Trong những năm qua, được sự quan tâm của Quốc hội, Chính phủ, nhiều công trình đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông quan trọng của vùng ĐBSCL đã hoàn thành, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần củng cố an ninh – quốc phòng của khu vực, tuy nhiên chưa phát huy được hết thế mạnh sẵn có một phần so kết cấu hạ tầng giao thông còn chưa đồng bộ. Để đồng bằng sông Cửu Long phát triển một cách bền vững theo đúng tinh thần Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ, sớm trở thành trung tâm kinh tế, văn hoá phát triển của cả nước, trong thời gian tới cần tập trung nguồn lực để đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông một cách đồng bộ, thích ứng với biến đổi khí hậu, đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hoá, nâng cao giá trị các sản phẩm chủ lực, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh. Bộ GTVT xin báo cáo về tình hình đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông và phương hướng phát triển vùng ĐBSCL trong thời gian tời cụ thể như sau:

I. Tình hình đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông vùng ĐBSCL:

1. Đường bộ: Theo quy hoạch sẽ hình thành hệ thống các trục dọc và trục ngang trong vùng cụ thể như sau:

          - Các tuyến trục dọc:

          + Tuyến thứ 1: Quốc lộ 1 đi từ TP HCM – Cần Thơ - Cà Mau dài 334km, đã đầu tư đủ 04 là xe dài 212km; các đoạn còn lại dài 122km đã được đầu tư hoàn thành với quy mô 02 làn, trong đó đoạn từ thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang đến huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng (20km) đã được điều chỉnh quy hoạch lên 04 làn xe, hiện Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý, đã báo cáo UBTVQH sử dụng dự phòng chung kế hoạch đầu tư công trung hạn để đầu tư mở rộng đoạn tuyến này.

+ Tuyến thứ 2: Tuyến cao tốc phía Đông từ TP HCM - Cần Thơ - Cà Mau. Trong đó, đoạn HCM – Trung Lương: đã hoàn thành năm 2010; đoạn Trung Lương – Mỹ Thuận đang triển khai thi công, Thủ tướng Chính phủ đang giao Bộ KH&ĐT, Bộ Tài chính bố trí vốn NSNN hỗ trợ 2.186 tỷ đồng (đã giao UBND tỉnh Tiền Giang làm CQNNCTQ); đoạn Mỹ Thuận – Cần Thơ hiện chưa được bố trí 932 tỷ đồng phần vốn góp của Nhà nước nên chưa triển khai được; cầu Mỹ Thuận 2 đang triển khai thủ tục đầu tư bằng nguồn vốn TPCP giai đoạn 2017-2020.

          + Tuyến thứ 3: Đường HCM từ Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang và kết thúc tại Đất Mũi. Hiện nay đã hoàn thành, nối thông đến Mỹ An, tỉnh Đồng Tháp với quy mô đường cấp IV, 2 làn xe; đoạn Mỹ An – Cao Lãnh đang được đề xuất đầu tư bằng nguồn vốn vay ODA của Hàn Quốc với quy mô 04 làn xe; cầu Cao Lãnh và tuyến nối Cao Lãnh - Vàm Cống đã hoàn thành, cầu Vàm Cống sẽ thông xe tháng 6 năm 2019, đoạn Lộ Tẻ - Rạch Sỏi sẽ hoàn thành đầu năm 2020 với quy mô 04 làn xe; đoạn Rạch Sỏi – Bến Nhất – Gò Quao – Vĩnh Thuận chưa cân đối được nguồn vốn để đầu tư, đoạn còn lại đi trùng với QL63 và QL1 kết nối đến Đất Mũi.

          + Tuyến thứ 4: Trục hành lang ven biển phía Đông thông qua QL50, QL60, QL1 kết nối từ thành phố HCM và các tỉnh Đông Nam Bộ đến Cà Mau. Đến nay, đã  đầu tư nâng cấp QL50 đạt tiêu chuẩn đường cấp 3 đồng bằng, hoàn thành các cầu lớn trên tuyến như cầu Mỹ Lợi, Rạch Miễu, Hàm Luông và Cổ Chiên, nâng cấp được một số đoạn trên QL60. Hiện nay, trên tuyến còn một số điểm nghẽn cần phải đầu tư ngay cầu Rạch Miễu 2, cầu Đại Ngãi để giải quyết ùn tắc và mất an toàn giao thông, đặc biệt từ khi cầu Cổ Chiên hoàn thành.

+ Tuyến thứ 5: Tuyến N1 nối với hệ thống đường hành lang biên giới từ điểm cuối tuyến QL14C tại khu vực Lộc Tấn (Bình Phước) và kết thúc tại Hà Tiên với chiều dài 235 km, đến nay mới hoàn thành khoảng 90km từ Châu Đốc – Hà Tiên, còn lại 145km chưa được bố trí vốn để triển khai thi công.

          Ngoài ra, hệ thống đường bộ ven biển qua ĐBSCL có tổng chiều dài là 703,25km, trong đó các đoạn đi trùng với các tuyến quốc lộ chủ yếu tận dụng đường hiện hữu, các đoạn tuyến đi mới, đi trùng với đê biển, trùng với đường địa phương do UBND các tỉnh đầu tư xây dựng.

          Hiện nay, UBND tỉnh Long An đang đề nghị bổ sung trục động lực TP.HCM – Long An – Tiền Giang vào Quy hoạch phát triển giao thông vận tải đường bộ Việt Nam (Quốc lộ 50B). Bộ GTVT cơ bản thống nhất về chủ trương và sẽ nghiên cứu bổ sung vào quy hoạch mạng đường bộ quốc gia trình Thủ tướng Chính phủ.

          - Các tuyến trục ngang:

          Trong thời gian qua, các tuyến trục ngang đã được quan tâm đầu tư nâng cấp, tuy nhiên do điều kiện nguồn lực còn hạn hẹp, suất đầu tư lớn nên mới có một số đoạn tuyến được đầu tư, nâng cấp như: QL80 đoạn Mỹ Thuận – Vàm Cống, QL91 đoạn Cần Thơ – An Giang, đường Nam Sông Hậu, Quản Lộ - Phụng Hiệp, đường Hành lang ven biển phía Nam, một số đoạn trên tuyến QL53, QL54, QL63...

          + Hai trục ngang cao tốc: Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng và Hà Tiên – Rạch Giá – Bạc Liêu, theo quy hoạch, tiến trình đầu tư sau năm 2030.

2. Đường thủy nội địa:

          Vận tải đường sông được xác định là lợi thế của vùng ĐBSCL. Theo quy hoạch sẽ hình thành các tuyến sông chính kết nối TP HCM (Đông Nam Bộ) với vùng ĐBSCL, bao gồm các tuyến chính: Cửa Tiểu – Campuchia (cấp I); cửa Định An qua Tây Châu (cấp I); Sài Gòn – Cà Mau qua kênh Xà No (cấp III); Sài Gòn Kiên Lương qua kênh Lấp Vò (cấp III).

Ngoài ra còn các tuyến Sài Gòn – Cà Mau (tuyến ven biển); Sài Gòn – Kiên Lương (qua đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên); Sài Gòn – Bến Súc; Sài Gòn – Bến Kéo; Sài Gòn – Mộc Hoá; Mộc Hoá - Hà Tiên; Sài Gòn – Hiếu Liêm; Kênh Phước Xuyên – kênh 28; Rạch Giá - Cà Mau và tuyến Vũng Tàu – Thị Vải - ĐBSCL.

  Thời gian vừa qua, việc đầu tư hoàn thành Dự án nâng cấp hai tuyến đường thủy phía Nam và cảng Cần Thơ (tổng số 652 km), Dự án Phát triển cơ sở hạ tầng giao thông ĐBSCL (dự án WB5) dài tổng số 401km, Dự án nâng cấp tuyến kênh Chợ Gạo hoàn thành giai đoạn 1, đến nay vùng ĐBSCL có 1.053 km tuyến đường thủy nội địa trung ương được nâng cấp đạt cấp II÷III, nâng cao năng lực vận tải đường thủy của vùng để tăng thị phần vận tải, phát huy lợi thế sông nước của vùng ĐBSCL.

Các tuyến đường thủy kết nối giữa thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh ĐBSCL hầu hết đã được đầu tư, nâng cấp đạt tiêu chuẩn cấp III (riêng 28,5 km kênh Chợ Gạo hiện mới được nâng cấp GĐ1 đạt cấp II hạn chế) cho tàu trọng tải 600 tấn hành thủy, đã góp phần nâng cao năng lực vận tải thủy của vùng, đảm bảo kết nối giữa các tỉnh vùng ĐBSCL với TP HCM để tăng thị phần vận tải, phát huy lợi thế sông nước của vùng.

Tuy nhiên, khả năng kết nối giữa ĐTNĐ với đường bộ, đường biển còn có những nút thắt cần được tháo gỡ; khoang thông thuyền một số cầu chưa đảm bảo theo cấp quy hoạch như cầu Măng Thít, cầu Chợ Lách 1, cầu Chợ Lách 2, cầu Nàng Hai làm hạn chế cỡ tàu thông qua; đặc biệt chỉ cho thông qua tàu chở công ten nơ đến 2 lớp. Do đó, làm tăng chi phí vận tải, giảm tính cạnh tranh. Tuyến kênh Chợ Gạo do nguồn vốn NSNN hạn chế nên mới chỉ đầu tư giai đoạn 1, các đoạn bờ kênh chưa được kè bảo vệ xuất hiện tình trạng sạt lở, gây bồi lắng luồng

 3. Hàng không:

Hiện trong vùng có 04 cảng hàng không: CHK Quốc tế Cần Thơ (công suất thiết kế 3,0 triệu HK/năm), Phú Quốc (công suất thiết kế 4,0 triệu HK/năm), CHK Rạch Giá (công suất thiết kế 0,3 triệu HK/năm) và CHK Cà Mau (công suất thiết kế 0,3 triệu HK/năm), hiện chưa khai thác hết công suất, đặc biệt là CHK Quốc tế Cần Thơ năm 2018 mới chỉ đạt 835.100 hành khách, đạt 27,8% công suất.

Việc kết nối hàng không giữa thành phố HCM và các tỉnh ĐBSCL thông qua CHKQT Tân Sơn Nhất (công suất thiết kế 50 triệu hành khách/năm) với CHK Quốc tế Phú Quốc (công suất thiết kế đến năm 2020 là 4,0 triệu HK/năm) với tần suất 34 chuyến bay/ngày trong đó riêng bay từ Tân Sơn Nhất là 17 chuyến, thông qua CHK Rạch Giá (công suất thiết kế đến năm 2020 là 0,3 triệu HK/năm) và CHK Cà Mau (công suất thiết kế đến năm 2020 là 0,3 triệu HK/năm) với tần suất khai thác chỉ 01 chuyến/ngày. CHK Quốc tế Cần Thơ tuy không kết nối trực tiếp với CHKQT Tân Sơn Nhất nhưng nếu thực hiện được các giải pháp tăng lượng hành khách thông qua sẽ góp phần giảm tải cho sân bay Tân Sơn Nhất hiện đang quá tải nghiêm trọng.

4. Hàng hải:

Theo quy hoạch cảng biển nhóm 6 được phê duyệt,lượng hàng thông qua: Đến năm 2020 khoảng từ 44 - 50 triệu tấn/năm (trong đó hàng tổng hợp, công ten nơ khoảng từ 12-14 triệu tấn/năm; có xét đến lượng than theo quy hoạch điện VII điều chỉnh là 14,7-16,9 triệu tấn/năm); đến năm 2030 đạt khoảng từ 97,2 -156 triệu tấn/năm (trong đó hàng tổng hợp, công ten nơ khoảng từ 22–26,5 triệu tấn/năm; có xét đến lượng than theo quy hoạch điện VII điều chỉnh là 42,6-48 triệu tấn/năm). Tổng lượng hàng thông qua thực tế năm 2017 là 19,1 triệu tấn, 2018 là 18,48 triệu tấn, trong khi đó công suất thiết kế của các bến cảng trong khu vực là 23,14-31,29 triệu tấn/năm; sau khi tiếp tục đầu tư một số bến cảng đặc biệt là các bến cảng chuyên dùng phục vụ cho các nhà máy nhiệt điện, đến năm 2020 sẽ đạt công suất là 43,65-55,37 triệu tấn/năm.

Đồng bằng sông Cửu Long hiện có 12 cảng biển, 35 bến cảng, 4,9 km cầu cảng. Theo Quy hoạch nhóm cảng biển số 6, khu vực gồm các cảng biển: Cảng biển Cần Thơ là cảng tổng hợp quốc gia, đầu mối khu vực (Loại I) và các cảng biển tổng hợp địa phương (Loại II) gồm: Cảng biển Đồng Tháp, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, An Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Cà Mau, Long An, Kiên Giang.

Về kết nối với các cảng trong khu vực Đông Nam Bộ: Hiện các cảng biển khu vực ĐBSCL đóng vai trò là các cảng vệ tinh thực hiện vai trò gom hàng cho các cảng khu vực TP HCM và Cái Mép - Thị Vải và vận tải liên vùng cự ly ngắn. Tuy nhiên, do hạn chế về luồng tàu giai đoạn trước nên hiệu quả hoạt động chưa cao. Sau khi dự án Luồng cho tàu biển trọng tải lớn vào sông Hậu đưa vào khai thác sử dụng, hiện nay khu vực ĐBSCL nói chung đã và sẽ phát triển những khu bến tiếp nhận tàu đến 20.000 tấn hoặc hơn, từng bước được đầu tư đồng bộ, hiện đại; đã bắt đầu hình thành những tuyến vận tải công ten nơ mới trên các tuyến biển gần cho các tàu công ten nơ sức chở 500 – 1.000 Teu, góp phần giảm chi phí, thời gian vận tải, thúc đẩy triển kinh tế - xã hội vùng và đất nước

5. Đường sắt:

Theo định hướng Chiến lược, Quy hoạch phát triển đường sắt (tại Quyết định số 214/QĐ-TTg ngày 10/5/2015 và số 1468/QĐ-TTg ngày 24/8/2015 của TTgCP), có tuyến đường sắt TP. HCM - Mỹ Tho - Cần Thơ - Cà Mau dài khoảng 320km, khổ 1.435mm kết nối TP HCM với một số tỉnh khu vực Tây Nam Bộ. Dự kiến đầu tư trong giai đoạn sau 2020. Hiên nay, Bộ GTVT đã lập và phê duyệt quy hoạch chi tiết đoạn từ TP HCM đến Cần Thơ làm cơ sở để các địa phương dành quỹ đất cho đường sắt.

Như vậy, theo thống kế sơ bộ, giai đoạn 2010-2015 tổng mức đầu tư các dự án sử dụng vốn NSNN trung ương do Bộ GTVT đầu tư vào kết cấu hạ tầng giao thông vùng BĐSCL khoảng 117.028 tỷ đồng, vốn xã hội hóa là 20.830 tỷ đồng (bao gồm cả dự án chuyển tiếp giai đoạn trước năm 2010 và giai đoạn 2016-2020); vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 được bố trí cho các dự án trong vùng là 28.032 tỷ đồng, vốn xã hội hóa là 9.028 tỷ đồng.

II. Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kết cấu hạ tầng giao thông trong thời gian tới để phát triển bền vững ĐBSCL và tăng cường kết nối giao thông vận tải giữa thành phố HCM với các tỉnh ĐBSCL:

Để ĐBSCL sớm trở thành trung tâm kinh tế, văn hoá, phát triển của cả nước cần có một hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại, bền vững theo Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ, tăng cường kết nối giao thông vận tải giữa thành phố HCM với các tỉnh ĐBSCL, đáp ứng nhu cầu vận tải hành khách và hàng hoá, đặc biệt là xuất nhập khẩu hàng hoá, nâng cao giá trị các sản phẩm chủ lực, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, trong thời gian tới, Bộ GTVT kiến nghị Quốc hội, Chính phủ quan tâm, tập trung nguồn lực cho vùng ĐBSCL để thực hiện một số nhiệm vụ sau:

1. Về đường bộ

1.1. Về hệ thống đường cao tốc:

- Về các tuyến cao tốc trục dọc:

+ Đoạn Trung Lương – Mỹ Thuận: Kiến nghị Thủ tướng Chính phủ bố trí vốn NSNN hỗ trợ 2.186 tỷ đồng để UBND tỉnh Tiền Giang hoàn thiện các thủ tục theo quy định và tiếp tục triển khai thi công, đảm bảo tiến độ thông xe trong năm 2020;

+ Cầu Mỹ Thuận 2: Bộ GTVT sẽ tập chung chỉ đạo triển khai, phấn đấu khởi công xây dựng trong Quý III năm 2019, hoàn thành năm 2023;

+ Đoạn Mỹ Thuận – Cần Thơ: Kiến nghị Thủ tướng Chính phủ bố trí vốn NSNN hỗ trợ 932 tỷ đồng cho Dự án để Bộ GTVT đủ điều kiện phát hành hồ sơ mời thầu lựa chọn Nhà đầu tư, phấn đấu khởi công Quý III năm 2020, hoàn thành Quý II năm 2022;

+ Đoạn Cần Thơ – Cà Mau: Kiến nghị Thủ tướng Chính phủ cho nghiên cứu để đầu tư tuyến cao tốc Cần Thơ – Cà Mau trong giai đoạn trước năm 2030;

+ Tuyến cao tốc Bắc – Nam phía Tây: Bộ GTVT kiến nghị Thủ tướng Chính phủ cho điều chỉnh lộ trình đầu tư nâng cấp đoạn từ Đức Hòa – Mỹ An lên giai đoạn trước năm 2030, đảm bảo đồng bộ với tuyến Cao Lãnh – Vàm Cống – Rạch Sỏi đã và đang được đầu tư;

Đồng thời, Bộ GTVT kiến nghị Thủ tướng Chính phủ cho bổ sung quy hoạch tuyến cao tốc Trà Vinh – Hồng Ngự vào quy hoạch mạng đường bộ Việt Nam, trước mắt giai đoạn 2021-2025 cho phép huy động nguồn vốn đầu tư trước đoạn từ An Hữu đến Cao Lãnh kết nối 2 tuyến cao tốc trục dọc phía Đông và phía Tây; bổ sung tuyến trục động lực TP.HCM – Long An – Tiền Giang vào quy hoạch mạng đường bộ quốc gia (tuyến QL50B) theo đề nghị của các địa phương để có cơ sở kêu gọi đầu tư, tăng cường kết nối giữa thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh ĐBSCL.

- Về các tuyến cao tốc trục ngang:

+ Tuyến Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng: Hiện nay, QL91 đã được đầu tư nâng cấp phù hợp với quy hoạch, tuy nhiên do nhu cầu vận tải trên tuyến hành lang trục ngang trung tâm của vùng ĐBSCL là rất lớn, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép điều chỉnh lộ trình đầu tư để kêu gọi nguồn vốn đầu tư tuyến cao tốc này trong giai đoạn trước năm 2030, đảm bảo kết nối đến cảng biển Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng sau khi được xây dựng và kết nối với các cửa khẩu dọc biên giới Campuchia;

+ Tuyến Hà Tiên – Rạch Giá – Bạc Liêu: Bộ GTVT kiến nghị Thủ tướng Chính phủ cho điều chỉnh lộ trình đầu tư đoạn từ Rạch Giá đến Hà Tiên lên giai đoạn trước năm 2030 và sẽ phối hợp với các bộ ngành và tỉnh Kiên Giang xúc tiến, kêu gọi nguồn vốn đầu tư trước đoạn Rạch Giá – Hà Tiên để kết nối với tuyến đường hành lang ven biển phía Nam giai đoạn 1.

1.2 Về hệ thống đường quốc lộ và các tuyến giao thông kết nối liên vùng:

- Tập trung chỉ đạo để hoàn thành các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông trong vùng đã được bố trí vốn như: Dự án xây dựng tuyến Lộ Tẻ - Rạch Sỏi, tuyến tránh thành phố Long Xuyên, mở rộng tuyến tránh thành phố Tân An; cải tạo, nâng cấp các tuyến: QL53 đoạn Trà Vinh – Long Toàn, QL30 đoạn Cao Lãnh – Hồng Ngự, QL57 đoạn bến phà Đình Khao đến thị trấn Mỏ Cày, nâng cấp mặt đường tuyến Quản Lộ - Phụng Hiệp…

- Kiến nghị Chính phủ, Quốc hội bố trí nguồn vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 đáp ứng nhu cầu để đầu tư các tuyến cao tốc, nâng cấp các tuyến quốc lộ trọng yếu trong vùng theo quy hoạch được duyệt, từng bước hoàn chỉnh mạng giao thông đường bộ của khu vực.

- Để nối thông tuyến tuyến hành lang phía Đông của vùng ĐBSCL, kiến nghị Bộ KH&ĐT sớm trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư cầu Đại Ngãi bằng nguồn vay ODA của Nhật Bản; kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư để triển khai xây dựng cầu Rạch Miễu 2 và nâng cấp Quốc lộ 60 qua địa phận tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng trong giai đoạn 2021-2025; Đề nghị thành phố Hồ Chí Minh sớm bố trí vốn đầu tư hoàn chỉnh tuyến QL50 trên địa bàn thành phố đến giáp tỉnh Long An (dài 8,5km) để kết nối với tuyến QL50 qua tỉnh Long An và Tiền Giang đã được đầu tư.

- Bộ GTVT sẽ phối hợp với các bộ ngành và địa phương khẩn trương kêu gọi nguồn vốn đầu tư, từng bước hoàn chỉnh tuyến vành đai 3, vành đai 4 thành phố HCM, kết nối thành phố HCM và các tỉnh Đông Nam Bộ với vùng ĐBSCL.

2. Về hàng hải

- Bộ GTVT đang khẩn trương hoàn thiện để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch cảng biển Sóc Trăng và bến cảng biển Trần Đề trong Quý II năm 2019 làm cơ sở kêu gọi xã hội hóa đầu tư, hình thành một cảng biển cửa ngõ đáp ứng cho tàu có trọng tải đến 100.000 tấn và trên 100.000 tấn, phục vụ xuất nhập khẩu hàng hóa trực tiếp của khu vực ĐBSCL.

- Kiến nghị Quốc hội, Chính phủ cho phép sử dụng nguồn vốn dư của Dự án Luồng tàu biển có tải trọng lớn vào sông Hậu (1.515 tỷ đồng) để tiếp tục thực hiện Dự án Luồng tàu biển có tải trọng lớn vào sông Hậu giai đoạn hoàn chỉnh, đảm bảo ổn định luồng tàu, duy trì tuyến vận tải công ten nơ kết nối khu vực ĐBSCL với các cảng biển khu vực Đông Nam Bộ (Cát Lái, Cái Mép – Thị Vải).

3. Về đường thủy nội địa

Để phát huy tối đa lợi thế giao thông đường thủy nội địa của khu vực, Bộ GTVT sẽ tập trung nguồn lực để đầu tư cải tạo, nâng cấp các tuyến huyết mạch, cụ thể:

- Kiến nghị Chính phủ, Quốc hội chấp thuận bố trí 1.337 tỷ đồng từ nguồn vốn dự phòng đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 để triển khai dự án nâng cấp, mở rộng tuyến kênh Chợ Gạo giai đoạn 2.

- Bộ GTVT sẽ chỉ đạo khẩn trương hoàn thiện thủ tục đầu tư Dự án phát triển các hành lang đường thủy và logistics khu vực phía Nam bằng nguồn vốn vay của ngân hàng thế giới, dự kiến sẽ khởi công năm 2020 và hoàn thành năm 2025.

- Nghiên cứu triển khai dự án nạo vét, cải tạo Kênh Mương Khai Đốc Phủ Hiền kết nối giữa sông Tiền và sông Hậu nhằm rút ngắn cự li vận tải giữa cảng Cần Thơ về cảng biển khu vực Đông Nam Bộ để giảm chi phí vận tải và logistics.

- Tập trung nguồn lực để cải tạo khoang thông thuyền các cầu Nàng Hai (tỉnh Đồng Tháp), cầu Chợ Lách 2 (tỉnh Bến Tre)… trên các tuyến đường thủy nội địa quan trọng, tháo gỡ các nút thắt về vận tải đường thuỷ nội địa trong vùng.

4. Về hàng không

- Bộ GTVT sẽ nghiên cứu nâng công suất cảng hàng không quốc tế Phú Quốc để đáp ứng nhu cầu hành khách ngày càng tăng cao.

- Bộ GTVT sẽ chỉ đạo Cục Hàng không Việt Nam khuyến nghị các hãng hàng không nghiên cứu, đầu tư các loại tàu bay thế hệ mới như A319/320/neo/ceo có sức chứa từ 160 - 165 hành khách, có khả năng khai thác hiệu quả hơn ATR72 đối với các tuyến bay ngắn, chiều dài đường cất hạ cánh hạn chế để có thể khai thác tuyến bay Tân Sơn Nhất – Rạch Giá và Tân Sơn Nhất – Cà Mau, đồng thời giảm được giá vé để thu hút hành khách trên các tuyến bay này.

- Đề nghị UBND thành phố Cần Thơ chủ trì, phối hợp với Bộ GTVT làm việc với các hãng hàng không nghiên cứu, đề xuất cơ chế chính sách để khuyến khích các hãng hàng không mở thêm nhiều đường bay mới kết nối Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ với các thành phố trong nước và quốc tế, giảm tải cho sân bay Tân Sơn Nhất hiện đang quá tải nghiêm trọng.

5. Về đường sắt

Để đảm bảo đáp ứng được nhu cầu vận tải trong giai đoạn tới, Bộ GTVT sẽ phối hợp với thành phố HCM và các tỉnh liên quan nghiên cứu điều chỉnh quy hoạch (nếu cần thiết) và kêu gọi đầu tư tuyến đường sắt kết nối từ thành phố HCM đến Cần Thơ phù hợp với định hướng Chiến lược, Quy hoạch phát triển ngành đường sắt đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

III. Giải pháp và kiến nghị trong việc phát triển kết cấu hạ tầng giao thông thời gian tới:

1. Giải pháp huy động nguồn lực:

Huy động đa dạng nguồn lực để phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, trong đó ưu tiên các nguồn lực để đầu tư các công trình KCHT GTVT quan trọng, có vai trò động lực, lan toả, liên kết Vùng (các tuyến quốc lộ, cao tốc trên tuyến trục dọc kết nối với thành phố Hồ Chí Minh, đường kết nối các khu kinh tế, cảng biển và các hành lang vận tải quốc tế). Kết hợp hiệu quả nguồn vốn giữa Trung ương và địa phương, có cơ chế, chính sách phù hợp để huy động vốn tư nhân và các nguồn vốn hợp pháp khác tham gia đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông.

2. Giải pháp kết nối vận tải:

- Nghiên cứu, triển khai các cơ chế, chính sách để khuyến khích đầu tư cải thiện hạ tầng, thúc đẩy kết nối giữa các phương thức vận tải đường bộ, đường thủy kết nối với cảng đường thủy nội địa, cảng biển và cảng hàng không.

- Tập trung cải cách thủ tục hành chính; Nâng cao chất lượng dịch vụ trên các tuyến đường thủy nội địa để giảm áp lực cho vận tải đường bộ, đặc biệt là vận tải liên vùng, quốc tế. Tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia kinh doanh vận tải, dịch vụ vận tải; đổi mới phương tiện, công nghệ, trang thiết bị dịch vụ vận tải, ưu tiên phát triển vận tải container, đa phương thức và dịch vụ logistics để điều tiết hợp lý giữa các phương thức vận tải. Đổi mới công nghệ xếp dỡ tại các đầu mối vận tải, xây dựng và phát triển trung tâm dịch vụ logistics trong Vùng.

3. Kiến nghị:

- Đề nghị sớm nghiên cứu xây dựng và ban hành Luật Đầu tư đối tác công tư; bổ sung, sửa đổi Luật Đầu tư công, làm cơ sở thúc đẩy tiến độ triển khai các dự án đầu tư công và khuyến khích kêu gọi nguồn vốn xã hội hóa trong đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông.

- Đề nghị sớm có giải pháp xử lý các khó khăn, vướng mắc thực hiện Luật Quy hoạch làm cơ sở tiếp tục triển khai việc lập quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh và quy hoạch ngành quốc gia.

- Ưu tiên cân đối, bố trí nguồn lực đầu tư cho kết cấu hạ tầng giao thông Vùng, có cơ chế phối hợp hiệu quả giữa Trung ương và địa phương trong việc thực hiện đầu tư các đường vành đai, các tuyến cao tốc với sự tham gia mạnh mẽ hơn từ các địa phương có điều kiện trong Vùng.

- Nghiên cứu, hoàn chỉnh cơ chế, chính sách về đầu tư và kinh doanh kết cấu hạ tầng; về chuyển nhượng quyền khai thác, cho thuê kết cấu hạ tầng; về phí sử dụng kết cấu hạ tầng, giá phí sau đầu tư, có sự điều tiết của Nhà nước, bảo đảm lợi ích thiết thực của người dân, trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc thị trường, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, chống độc quyền, công khai, minh bạch, xử lý tốt mối quan hệ giữa Nhà nước với thị trường nhằm huy động nguồn lực để đầu tư các dự án mới./.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan