Thứ 4, 20/10/2021 - 16:05
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Xác định dị thường trọng lực từ số liệu đo cao vệ tinh trên vùng biển xung quanh quần đảo Trường Sa

Mục đích của nghiên cứu này là xác định được dị thường trọng lực trên vùng biển xung quanh Quần đảo Trường Sa bằng số liệu đo cao vệ tinh. Để thực hiện mục đích đó, các tác giả đã phân tích số liệu đo cao vệ tinh để đưa ra quy trình xác định dị thường trọng lực từ số liệu đo cao vệ tinh và tiến hành thực nghiệm tính toán trên khu vực nghiên cứu, sau đó so sánh kết quả tính với số liệu đo trọng lực trực tiếp để kiểm tra, đánh giá.

Hiện nay, đo cao vệ tinh (Altimetry) phát triển rất mạnh mẽ, được ứng dụng hiệu quả trong các lĩnh vực Trắc Địa, Địa Vật Lý, Hải Dương Học, Khí Tượng và Môi Trường. Sử dụng số liệu đo cao vệ tinh để xác định dị thường trọng lực biển đã có nhiều tác giả trên thế giới thực hiện với độ chính xác và độ phân giải tăng dần:

Năm 1995, Cheinway Hwang và Barry Parsons đã xác định dị thường trọng lực biển bằng số liệu đo cao vệ tinh Seasat, Geosat, ERS-1 và T/P kết hợp với số liệu đo trọng lực trên tàu biển cho khu vực Reykjanes Ridge đạt độ chính xác ±5,76 mGal; Năm 2002, Cheinway Hwang, Hsin-Ying Hsu và R.J Jang đã sử dụng số liệu của các vệ tinh Seasat, Geosat, ERS-1, TOPEX/POSEIDON (T/P), ERS-2 để xác định dị thường trọng lực biển toàn cầu độ phân giải (2¢x2¢). Các kết quả tính toán này được so sánh với số liệu đo trọng lực trực tiếp trên tàu biển của 12 vùng và nhận được độ chính xác từ ±3.057mGal đến ±13.365mGal;

Năm 2008, Ole Baltazar Andersen, Per Knudsen, Philippa AM Berry đã sử dụng số liệu đo cao vệ tinh của các vệ tinh Geosat, ERS-1, ERS2, T/P, Jason-1, Envisat, GFO và ICEsat để xác định dị thường trọng lực biển và xây dựng nên mô hình trường trọng lực DNSC08GRA có độ phân giải (1¢x1¢). Các kết quả tính toán được so sánh với 321.400 điểm đo trọng lực trực tiếp trên tàu trên vùng Northwest Atlantic Ocean, độ lệch chuẩn đạt được là ±3,91 mGal;

 Năm 2010, Ole B Andersen đã xây dựng mô hình trường trọng lực toàn cầu DTU10GRAV có độ phân giải (1¢x1¢), bằng cách nâng cấp mô hình DNSC08GRAV trên cơ sở bổ sung thêm các số liệu đo mới của vệ tinh ERS-1, ENVISAT và nâng cao độ chính xác của các số hiệu chỉnh địa vật lý cũng như khoảng cách đo cao vệ tinh. Kết quả dị thường trọng lực tính từ mô hình DTU10GRAV được so sánh với 321.400 điểm đo trọng lực trực tiếp trên tàu của vùng Northwest Atlantic Ocean, độ lệch chuẩn đạt được là ±3,82 mGal;

 Năm 2015, Andersen, Ole Baltazar và Per đã xây dựng mô hình DTU15GRAV có độ phân giải (1¢x1¢), trên cơ sở sử dụng 5 năm dữ liệu của vệ tinh Cryosat-2 và dữ liệu của vệ tinh Jason-2. Kết quả dị thường trọng lực tính từ mô hình DTU15GRAV được so sánh với 54000 điểm trọng lực được các nhà khoa học Australia khảo sát năm 2009 với độ chính xác của máy đo trọng lực là 1÷1.5 mGal thì độ lệch chuẩn chuẩn đạt được là: ±1.81mGal; Năm 2017, Shengjun Zhang, David T. Sandwell, Taoyong Jin và Dawei Li đã sử dụng số liệu đo cao vệ tinh của các vệ tinh GOSAT, ERS-1, Jason-1, T/P, Envisat, CryoSat-2 và SARAL/AltiKa để xác định dị thường trọng lực với độ phân giải (1¢x1¢) cho khu vực biển Đông. Các kết quả tính toán được so sánh với số liệu trọng lực trực tiếp đo trên tàu của Trung tâm dữ liệu Địa vật lý Quốc gia Hoa kỳ khảo sát. Sai số trung phương đạt được tại lưu vực biển Đông ±5.98mGal, xung quanh bờ biển phía nam của Đài Loan đạt ±5.22mGal, xung quanh các đảo của Philippine đạt ±8.28mGal.

 

ssss.png

Kết quả tính dị thường trọng lực từ số liệu đo cao vệ tinh

Ở Việt Nam, số lượng các công trình nghiên cứu về vấn đề sử dụng số liệu đo cao vệ tinh để xác định dị thường trọng lực biển còn rất hạn chế: Năm 2008, tác giả Bùi Công Quế cùng một số tác giả khác đã kết hợp số liệu dị thường trọng lực đo trực tiếp trên tàu Gagarinsky, tàu Atlante và kết quả dị thường trọng lực biển được tính từ số liệu đo cao vệ tinh do thế giới tính để thành lập bản đồ dị thường trọng lực Bugher khu vực biển Việt Nam và kế cận ở tỷ lệ 1:1.000.000 ở dạng số. Độ chính xác của dị thường trọng lực xác định từ số liệu đo cao vệ tinh khi so sánh với số liệu đo trực tiếp đạt ± 8.5mGal [4]; Năm 2012, Nguyễn Văn Sáng đã xác định dị thường trọng lực biển từ số liệu đo cao vệ tinh Envisat kết hợp với số liệu trọng lực đo trực tiếp ở trên bờ và các đảo cho khu vực Biển Đông với độ chính xác khoảng ±6 mGal.

Nhóm nghiên cứu do PGS. TS. Nguyễn Văn Sáng và TS. Vũ Văn Trí ở Đại học Mỏ - Địa chất và NCS. Phạm Văn Tuyên ở Công ty Cổ phần xi măng Tân Thắng, Việt Nam đã tập trung nghiên cứu phương pháp xác định dị thường trọng lực từ số liệu đo cao vệ tinh và ứng dụng xác định dị thường trọng lực cho vùng biển xung quanh Quần đảo Trường Sa từ số liệu đo cao vệ tinh Cryosat-2.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan