Nam Định

Sở TN&MT Nam Định có báo cáo số 3699/BC-STNMT ngày 18 tháng 12 năm 2018 tổng kết công tác năm 2019, phương hướng nhiệm vụ năm 2019 ngành tài nguyên và môi trường tỉnh Nam Định.

 

1. Kết quả thực hiện các nhiệm vụ chung:

1.1. Kết quả xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật:

Tham mưu cho UBND tỉnh ban hành nhiều văn bản Quyết định, kế hoạch, văn bản chỉ đạo điều hành trong lĩnh vực tài nguyên môi trường. Đặc biệt là 08 văn bản quy phạm pháp luật:

- Quyết định  số 01/2018/QĐ-UBND ngày 15/01/2018 về việc Ban hành quy định đơn giá bồi thường, hỗ trợ thiệt hại về nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Nam Định;

- Quyết định  số 03/2018/QĐ-UBND ngày 09/02/2018 về việc quy định hệ số điều chỉnh giá đất năm 2018 để xác định giá đất tính thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất trên địa bàn tỉnh NĐ;

- Quyết định số 09/2018/QĐ-UBND ngày 02/05/2018 về Quy định trách nhiệm phối hợp quản lý hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh;

- Quyết định số 14/2018/QĐ-UBND ngày 20/6/2018 về Quy định về diện tích tối thiểu được phép tách thửa các loại đất trên địa bàn tỉnh NĐ;

- Quyết định số 16/2018/QĐ-UBND, ngày 02/7/2018 về Quy định cụ thể một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi NN thu hồi đất trên địa bàn tỉnh.

- Quyết định số 20/2018/QĐ-UBND, ngày 20/08/2018 về Bộ đơn giá hoạt động quan trắc môi trường trên địa ban tỉnh Nam Định;

- Quyết định số 26/2018/QĐ-UBND ngày 02/11/2018 về  ban hành Quy định hạn mức giao đất ở và hạn mức công nhận đất ở trên địa bàn tỉnh Nam Định;

- Quyết định số 27/2018/QĐ-UBND ngày 09/11/2018 Ban hành quy chế phối hợp quản lý hoạt động khí tượng thủy văn trên địa bàn tỉnh Nam Định.

Đồng thời, Sở đã chủ động ban hành nhiều văn bản để chỉ đạo, điều hành, hướng dẫn nhằm đảm bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm ngành tài nguyên và môi trường năm 2018.

1.2. Kết quả thực hiện cải cách hành chính:

Tập trung chỉ đạo công tác CCHC và chỉ số tiếp cận đất đai trong bộ chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Theo đó, chỉ số tiếp cận đất đai năm 2017 tăng 12 bậc so với năm 2016 và đứng thứ 23/63 toàn quốc;

- Tham mưu cho UBND tỉnh ban hành Quyết định số 356/QĐ-UBND ngày 06/2/2018 về việc công bố danh mục thủ tục hành chính ban hành mới, bãi bỏ thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Tài nguyên và môi trường, UBND cấp huyện, UBND cấp xã. Hiện, các thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, biển, khí tượng thủy văn đã được công khai trên Website của sở. Đặc biệt, hoàn thành việc xây dựng và vận hành quy trình dịch vụ công trực tuyến với 101(đạt 100%) TTHC lĩnh vực TN&MT thuộc thẩm quyền của Sở. Trong đó: mức độ 2 đạt 30%; mức độ 3 đạt 70% TTHC;

- Hoàn thành xây dựng, áp dụng hệ thống QLCL TCVN ISO 9001:2015 trong hoạt động quản lý và điều hành của Sở;

- Đăng lịch công tác; văn bản pháp luật; Mở chuyên mục: Tiếp cận thông tin và công khai ngân sách nhà nước theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin 2016 trên trang website của Sở.

- Xây dựng Quy chế cung cấp thông tin cho công dân của Sở.

- Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 26/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị 11/CT-UBND của Chủ tịch UBND tỉnh. Theo đó, đã tăng cường các biện pháp quán triệt, giáo dục, quản lý, giám sát chặt chẽ thái độ ứng xử của công chức, viên chức, người lao động đối với tổ chức, công dân, nhất là những vị trí công tác nhạy cảm như người làm tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả giải quyết các TTHC, người làm công tác thẩm định đất đai, môi trường, tài nguyên nước, khoáng sản, quản lý dự án.

- Về giải quyết các TTHC: Đã tiếp nhận và giải quyết các giao dịch TTHC cho 60.913 trường hợp. Trong đó:

+ Hộ gia đình, cá nhân: 18.386 trường hợp cấp đổi GCN;  42.033 trường hợp giao dịch đảm bảo (đăng ký, xoá và thay đổi nội dung thế chấp).

+ Cơ quan, tổ chức: 494 hồ sơ thủ tục hành chính về lĩnh vực TNMT; 151 trường hợp giao dịch đảm bảo (đăng ký, xoá và thay đổi nội dung thế chấp).

1.3. Công tác kiện toàn bộ máy quản lý tài nguyên và môi trường

Bộ máy hiện tại của Sở Tài nguyên và Môi trường Nam Định về cơ bản phù hợp với quy định tại Thông tư liên tịch số 50/2014/TTLT-BTNMT-BNV ngày 28/8/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nội vụ về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tài nguyên và Môi trường. Cụ thể:

Đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Quyết định số 39/2015/QĐ-UB ngày 28/12/2015 của UBND tỉnh Nam Định về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Sở Tài nguyên và Môi trường và ban hành các Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị trực thuộc. Tuy nhiên đến nay vẫn còn một số đơn vị chưa kiện toàn như:

- Đã thành lập Chi cục quản lý đất đai nhưng chưa đi vào hoạt động: do chưa đủ công chức để hoạt động;

- Chưa đổi tên phòng đo đạc bản đồ và viễn thám (lấy tên phòng đo đạc và đăng ký đất đai và bổ sung nhiệm vụ viễn thám): do Chi cục quản lý đất đai chưa hoạt động.

- Chưa thành lập được Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên và môi trường (trên cơ sở tổ chức lại các Trung tâm khác hiện có): do Trung tâm kỹ thuật và Công nghệ địa chính chuyển sang cơ chế tự chủ tài chính.

1.4. Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo:

1.4.1. Công tác thanh tra, kiểm tra:

a. Công tác Thanh tra:

Triển khai 09 cuộc thanh tra về đất đai. Trong đó: 03 cuộc chuyển từ năm 2017 chuyển sang, 05 cuộc thanh tra (tại 05 UBND xã) theo kế hoạch, 01 cuộc thanh tra đột xuất liên ngành việc chấp hành pháp luật Đất đai, Đê điều và Xây dựng;

Triển khai 05 cuộc thanh tra kết hợp trong lĩnh vực tài nguyên – môi trường (05 đơn vị): Trong đó có 02 cuộc của năm 2017 chuyển sang, 03 cuộc triển khai năm 2018.

b. Công tác kiểm tra:

*. Kiểm tra đất đai: Chủ trì phối hợp với các Sở, ngành thực hiện 1 cuộc kiểm tra về quản lý, sử dụng đất đối với các dự án khu đô thị, khu du lịch nghỉ dưỡng có quy mô lớn: KĐTM Hoà Vượng, Thống Nhất, Mỹ Trung; 09 cuộc kiểm tra sử dụng đất của 10 đơn vị.

* Chủ trì triển khai 2 Đoàn kiểm tra liên ngành theo kiến nghị của Đoàn công tác số 02 của Ban chỉ đạo TW về phòng chống tham nhũng. Cụ thể:

+ Kiểm tra các dự án chậm tiến độ: Hoàn thành việc kiểm tra 70/70 dự án chậm tiến độ (6 dự án thu thập qua Thanh tra tỉnh). Hiện đã hoàn thiện báo cáo và tham mưu đề xuất UBND tỉnh giải pháp xử lý.

+ Kiểm tra việc xử lý vi phạm đất đai: Tổ chức kiểm tra  4 huyện Mỹ Lộc, Ý Yên, Giao Thuỷ, Nam Trực và 3 cơ sở tôn giáo tại Công ty TNHH MTV nông nghiệp Rạng Đông.

+ Báo cáo UBND tỉnh việc kiểm tra 27 dự án về thủ tục giao đất cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư SXKD tại 2 huyện Hải Hậu (18 dự án); Mỹ Lộc (9 dự án); 

- Kiểm tra về môi trường: 15 cơ sở; phúc tra 02 cơ sở. Hiện đã kết luận 13 cơ sở; đang dự thảo kết luận 04 cơ sở; Phối hợp với các đoàn thanh tra của Bộ TNMT, Thanh tra tỉnh thanh tra việc chấp hành pháp luật về BVMT đối với các cơ sở nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất; Phối hợp với cảnh sát môi trường tỉnh Nam Ðịnh kiểm tra công tác bảo vệ môi trường của 7 cơ sở.

- Kiểm tra về khoáng sản: 6 đơn vị về chấp hành pháp luật về khoáng sản. Hiện đang kiểm tra. Đồng thời, đôn đốc 11 đơn vị thực hiện, khắc phục theo yêu cầu của thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2016. Ngoài ra, Cảnh sát đường thủy Công an tỉnh, Bộ đội biên phòng tỉnh đã tăng cường mở các đợt kiểm tra, tuần tra xử lý hàng chục phương tiện khai thác cát trái phép, hàng trăm phương tiện không đủ điều kiện hoạt động, chở quá tải,.. xử phạt nộp ngân sách nhà nước hàng trăm triệu đồng.

- Kiểm tra về vực tài nguyên nước: 5 đơn vị về chấp hành pháp luật về tài nguyên nước; đến nay, đang tiếp tục kiểm tra

- Kiểm tra về biển và hải đảo: Kiểm tra 9 đơn vị về chấp hành các quy định về quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường vùng ven biển; đã kiểm tra xong trong đó có 2 đơn vị đã ngừng hoạt động.

C. Kết quả xử lý vi phạm qua thanh tra, kiểm tra:

+ Tổng số tổ chức, cá nhân có vi phạm là: số tổ chức là 44; cá nhân vi phạm bị khởi tố là 9 cá nhân

+ Ra Quyết Định đã ra quyết định xử phạt VPHC về đất đai đối với 7 đơn vị với tổng số tiền là 66.000.000 đồng; VPHC về môi trường đối với 12 cơ sở với tổng số tiền xử phạt là 422.000.000 đồng.

+ Đã tham mưu UBND tỉnh ra quyết định thu hồi đất của 4 đơn vị với tổng diện tích là 33.587,2 m2 do không còn nhu cầu sử dụng đất.

1.4.2. Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền UBND tỉnh:

- Giao Sở thẩm tra xác minh năm 2018:  01 vụ việc (bà Vũ Thị Ngọ) UBND tỉnh đã ra quyết định giải quyết;

- Giao Sở báo cáo: 15 vụ việc. Trong đó vụ việc từ  năm 2017 tiếp tục triển khai năm 2018: 04 vụ việc (đã báo cáo UBND tỉnh); triển khai mới năm 2018: 10 vụ việc. trong đó UBND tỉnh đã có văn bản xử lý 4 vụ việc; 02 vụ việc Sở đã xem xét, trả lời.

- Phối hợp với Thanh tra tỉnh 06 vụ việc và 01 vụ việc tham gia Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử khiếu kiện quyết định hành chính của UBND tỉnh.

- Báo cáo tình hình triển khai thực hiện Đề án 1675/QĐ-TTg; đang hoàn thiện Báo cáo đoàn thanh tra của Thanh tra Bộ TNMT về việc khắc phục tồn tại theo KL 1318/KL-BTNMT ngày 24/3/2017;

*. Công tác tiếp dân và xử lý đơn thư:

- Tiếp 38 lượt công dân kiến nghị (đất đai: 35 vụ, môi trường 03 vụ);

- Tiếp nhận và xử lý 210 đơn (Số đơn đủ điều kiện xử lý là 142 đơn) tố cáo, khiếu nại, kiến nghị về đất đai (106 đơn), môi trường (36 đơn). Kết quả xử lý như sau: Sở xem xét trả lời: 2 đơn; tỉnh chỉ đạo xem xét, giải quyết: 13 đơn ; chuyển đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết: 42 đơn; hướng dẫn công dân đến cơ quan có thẩm quyền: 85 đơn.

- Tiếp nhận, xử lý thông tin phản ánh, kiến nghị về ô nhiễm môi trường qua đường dây nóng 13 vụ việc, trong đó: giải quyết 11 vụ việc, 2 vụ việc chuyển về UBND huyện, xã giải quyết theo thẩm quyền;

2. Các lĩnh vực quản lý chuyên ngành về tài nguyên và môi trường

2.1. Lĩnh vực quản lý đất đai

2.1.1. Kết quả lập Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2016-2020) cấp huyện:

- Cấp tỉnh: Điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) tỉnh Nam Định đã được Chính phủ phê duyệt tại Nghị quyết số 135/NQ-CP ngày 26/12/2017.

- Cấp huyện: Điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 cấp huyện: UBND tỉnh đã phê duyệt thành phố Nam Định và 5 huyện: Nghĩa Hưng, Vụ Bản, Trực Ninh, Ý Yên, Hải Hậu; còn 04 huyện: Mỹ Lộc, Xuân Trường, Nam Trực, Giao Thuỷ hiện đang hoàn thiện hồ sơ trình UBND tỉnh phê duyệt.

- Kế hoạch sử dụng đất năm 2018, 2019: Đã thẩm định và trình UBND tỉnh phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2018 của 10 huyện, thành phố xong trong tháng 3/2018; Chuẩn bị tốt danh mục các dự án thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất thuộc KHSDĐ năm 2019 trình HĐND tỉnh phê chuẩn tại kỳ họp cuối năm. Trên cơ sở danh mục được duyệt Sở đang đôn đốc các huyện, thành phố xây dựng KHSDĐ năm 2019 để tham mưu Hội đồng thẩm định KHSDĐ thẩm định, trình UBND tỉnh phê duyệt.

2.1.2. Công tác thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất

- Thực hiện nghiêm thủ tục hành chính về lập, thẩm định, trình duyệt hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Tài nguyên và Môi trường đã được UBND phê duyệt tại Quyết định số 1271/QĐ-UBND tỉnh Nam Định ngày 06/7/2015 và Quyết định số 356/QĐ-UBND ngày 06/02/2018.

- Phối hợp tốt với các đơn vị khác như Trung tâm xúc tiến đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp tỉnh Nam Định, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Xây dựng…theo Quy chế phối hợp các thủ tục hành chính liên quan đến dự án đầu tư không sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước ban hành kèm theo Quyết định số 17/2018/QĐ-UBND ngày 16/7/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định.

- Hướng dẫn thủ tục cho các doanh nghiệp, tổ chức xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất thuộc kế hoạch sử dụng đất 2018.

* Kết quả thực hiện của năm 2018 như sau:

a. Thu hồi đất: Trong năm 2018, toàn tỉnh thu hồi đất để thực hiện 22 dự án với tổng diện tích đất thu hồi là 147,84 ha; số tiền bồi thường là 262.851,16 triệu đồng; số tiền hỗ trợ là 152.133,75 triệu đồng.

b. Giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức:

Tham mưu, trình UBND tỉnh ra quyết định giao đất, cho thuê đất tổng số 39 dự án, công trình với tổng diện tích là 80,45 ha. Trong đó:

- Giao đất không thu tiền sử dụng đất: 8 tổ chức với diện tích 25,10 ha;

- Chuyển mục đích sử dụng đất, cho thuê đất đối với 31 tổ chức với 55,35 ha;

c. Giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân: Tại cấp huyện đã ra Quyết định:

- Giao đất cho 2.635 hộ gia đình, cá nhân với tổng diện tích 32,94 ha cho nhân dân làm nhà ở thông qua đấu giá quyền sử dụng đất với tổng số tiền 1.328 tỷ đồng.

- Cho thuê và chuyển mục đích sử dụng đất đối với 08 hộ với diện tích 1,53 ha để sử dụng vào mục đích nông nghiệp và phi nông nghiệp.

* Tổng số diện tích đất trồng lúa chuyển sang mục đích khác là 60,48 ha.

2.1.3. Tình hình tập trung đất đai, một số mô hình, phương thức tập trung đất đai hiệu quả ở địa phương; kết quả sắp xếp đất nông, lâm trường

a. Tình hình tập trung đất đai, một số mô hình, phương thức tập trung đất đai:

Tại tỉnh Nam Định trong những năm qua, một trong những giải pháp nhằm thực hiện chủ trương chính sách thúc đẩy tích tụ, tập trung đất đai phát triển kinh tế xã hội nhất là phục vụ đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Theo đó, Ngoài việc hoàn thành công tác dồn điền đổi thửa xong năm 2014, đến nay, toàn tỉnh đã xây dựng được 207 mô hình “cánh đồng lớn” với tổng diện tích 11.474 ha. Trong đó có 34 cánh đồng lớn liên kết chuỗi giá trị với tổng diện tích 1.480 ha. 20 chuỗi giá trị được xác nhận sản phẩm chuỗi nông sản phẩm hàng hoá giá trị được xác nhận, trong đó có 10 mô hình điểm liên kết chuỗi giá trị được xác nhận sản phẩm chuỗi thực phẩm an toàn.

b.  Kết quả sắp xếp đất nông, lâm trường:

Thực hiện Nghị định số 118/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014 của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới và phát triển nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp. Sở Tài nguyên và Môi trường đã lập Thiết kế kỹ thuật - dự toán trình UBND tỉnh ban hành quyết định số 1650/QĐ-UBND ngày 27/8/2015.

Căn cứ công văn số 1246/TCQLĐĐ-CĐKĐĐ ngày 12/7/2016 của Tổng cục Quản lý đất đai về việc hướng dẫn Đề cương chi tiết xây dựng Đề án tăng cường quản lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường quốc doanh, UBND tỉnh đã phê duyệt đề án tăng cường quản lý đất có nguồn gốc từ nông lâm trường quốc doanh và Thiết kế kỹ thuật - dự toán Đo đạc lập bản đồ địa chính và cấp GCNQSDĐ đối với diện tích có nguồn gốc từ công ty TNHH Rạng Đông và Công ty TNHH Bạch Long trả về địa phương (Quyết định số 3074/QĐ-UBND ngày 28/12/2017 của UBND tỉnh).

  Đến tháng 2/2017 các đơn vị tư vấn đã đo đạc xong diện tích hai công ty đang quản lý sử dụng, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức nghiệm thu kết quả  đo đạc. Trên cơ sở kết quả hiện trạng đo đạc, ý kiến thống nhất của các ngành, UBND huyện Nghĩa Hưng, UBND thị trấn Rạng Đông với đề xuất của công ty TNHH MTV nông nghiệp Rạng Đông. Sở Tài nguyên và Môi trường đã bàn giao số liệu đối với diện tích của 02 công ty xin tiếp tục sử dụng để công ty hoàn thiện dự án và phương án. Năm 2018, 02 công ty đã thực hiện xong việc cắm mốc và đang hoàn thiện Đề án sắp xếp đổi mới và phương án sử dụng đát.

2.1.4. Công tác đo đạc bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai.

a.  Công tác đo đạc:

Năm 2018, trên địa bàn tỉnh không thực hiện công trình đo đạc bản đồ địa chính nào. Một số dự án về đo đạc và bản đồ đã được triển khai từ những năm trước tuy vậy đến nay, chưa có xã, thị trấn nào hoàn thành công tác đo đạc, chỉnh lý bản đồ do gặp khó khăn về nguồn kinh phí, gồm: Dự án xây dựng cơ sở dữ liệu huyện Ý Yên và thành phố Nam Định; các dự án đo đạc, chỉnh lý bản đồ sau dồn điền đổi thửa tại các xã thuộc 09 huyện.

b.Công tác lập hồ sơ địa chính, cấp GCNQSDĐ

- Cấp GCN QSDĐ cho cơ quan, tổ chức, cơ sở tôn giáo: Từ đầu năm đến nay cấp được 132 GCN. Tính lũy kế đến nay cấp được 4.272/5643 GCN tổng số thửa đất, đạt 75,7 %.(CQ, TC: 3.297; CSTG: 975).

- Công tác cấp GCNQSDĐ ở cho hộ gia đình, cá nhân: Trong năm 2018, toàn tỉnh cấp được 5375 GCN. Lũy kế đến hết năm 2018, toàn tỉnh đã cấp được 530.383/559.110 tổng số thửa đất ở (đạt 94,86%)  và đạt 530.383 GCN /540.482 đạt 98,1% tổng số thửa có thể cấp.

  - Công tác cấp đổi GCNQSDĐ sau dồn điền đổi thửa: Năm 2018, toàn tỉnh đã cấp được 59.132 GCN. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh đã cấp được 171.366 GCN/449.299 thửa đất (đạt 38,14%).

- Lập, thẩm định và phê duyệt phương án xử lý các trường hợp sử dụng đất không hợp pháp: Tính đến nay các huyện, TP ra quyết định xử lý 14.447 hộ; cấp được 9.902 GCN.

c. Kết quả xây dựng cơ sở dữ liệu: Có 36 xã, phường, thị trấn đang thực hiện xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính. Hiện việc xây dựng cơ sở dữ liệu ở các địa phương này còn chưa hoàn thiện do gặp khó khăn về kinh phí.

2.1.5. Công tác bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất; giá đất và thu ngân sách từ đất năm 2018

2.1.5.1. Công tác bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất

Thực hiện Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 6/1/2017 của Chính phủ; Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu để UBND tỉnh ban hành Quyết định số 16/2018/QĐ-UBND ngày 02/7/2018 về việc ban hành quy định cụ thể một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Nam Định thay thế quyết định số 08/2015/QĐ-UBND để làm căn cứ để Hội đồng bồi thường GPMB các huyện, thành phố áp dụng để xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong quá trình thực hiện GPMB các công trình, dự án.

2.1.5.2. Giá đất và thu ngân sách từ đất năm 2018

a. Việc xây dựng và ban hành, điều chỉnh bảng giá đất:

Thực hiện Thông báo số 149/TB-UBND ngày 29/8/2018 của UBND tỉnh về việc lập dự án xây dựng bảng giá các loại đất áp dụng từ ngày 01/01/2020 đến 31/12/2024. Hiện Sở Tài nguyên và Môi trường đã ban hành tờ trình lựa chọn đơn vị tư vấn khảo sát thiết kế lập dự án xây dựng bảng giá các loại đất trình Sở Tài chính thẩm định dự toán dự án.

b. Số lượng trường hợp định giá đất cụ thể đã thực hiện:Năm 2018, đã thực hiện định giá đất cụ thể phục vụ việc bồi thường, hỗ trợ GPMB và tái định cư cho 29 dự án và phục vụ việc giao đất, cho thuê đất cho 08 dự án.

c. Tổng các nguồn thu từ đất đến tháng 10/2018 là 1.612.671 triệu đồng.

2.1.6. Kết quả thực hiện kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật đất đai của các tổ chức được nhà nước giao đất, cho thuê đất, chậm tiến độ, dự án bị thu hồi.

Thực hiện kết luận của Đoàn công tác số 02 của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành Quyết định số 470/QĐ-UBND ngày 06/3/2018 thành lập đoàn kiểm tra liên ngành để tiến hành kiểm tra 70 dự án đã được giao đất, cho thuê đất từ năm 2004 đến nay nhưng chậm tiến độ đầu tư và chậm đưa đất vào sử dụng trên địa bàn tỉnh Nam Định. Đến nay, Đoàn kiểm tra đã có báo cáo UBND tỉnh  và UBND tỉnh đã có Thông báo kết luận về việc giải pháp xử lý việc sử dụng đất của 70 dự án chậm đầu tư, chậm đưa đất vào sử dụng trên địa bàn tỉnh. Trong thời gian tới, căn cứ chỉ đạo của UBND tỉnh các Sở, ngành và UBND các huyện, thành phố có liên quan sẽ tham mưu tổ chức thực hiện theo quy định.

2.1.7. Những khó khăn, vướng mắc về chính sách pháp luật đất đai.

1. Về đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính: Khi các tổ chức kinh tế lập thủ tục thuê đất để sản xuất, kinh doanh theo quy định của Luật Đất đai thì phải cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngay cho tổ chức kinh tế đó sau khi hoàn thiện xong thủ tục về đất đai, lúc đó Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN) chưa có tài sản gắn liền với đất. Sau đó các tổ chức kinh tế đó mới tiến hành xây dựng các công trình theo dự án đầu tư và tiến hành đăng ký lần đầu đối với tài sản trên đất. Theo quy định tại điểm d khoản 3 điều 95 Luật Đất đai thì trường hợp đăng ký lần đầu do UBND cấp tỉnh ký GCN đối với tổ chức và UBND cấp huyện ký GCN đối với hộ gia đình, cá nhân. Do đó đề nghị sửa đổi, bổ sung quy định của khoản này đưa vào đăng ký biến động quy định tại khoản 4 điều 95.

2. Tại khoản 1, Điều 64 Luật Đất đai “Thu hồi đất do vi phạm pháp luật đất đai” liệt kê 9 trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật, nhưng vẫn không rõ và chưa hợp lý, dẫn đến không thực thi được trên thực tế. Chẳng hạn điểm a, khoản 1, quy định thu hồi trong trường hợp “Sử dụng đất không đúng mục đích” còn chung chung. Nếu đất trồng lúa, mà bị sử dụng vào việc trồng cây hàng năm khác, thì cũng là trái mục đích, tuy nhiên nếu thu hồi đất trong trường hợp này sẽ gặp rất nhiều khó khăn; bởi vậy cần có quy định cụ thể để xử lý đối với trường hợp này. Hoặc tại điểm i khoản này của điều này có quy định “…trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng … hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng”. Thực tế khi chủ đầu tư không đưa đất vào sử dụng khi làm việc để gia hạn sử dụng đất các nhà đầu tư không đến làm thủ tục hoặc phá sản, rất khó khăn cho việc gia hạn sử dụng đất và như thế Nhà nước không thể thu hồi đất. Vì vậy đề nghị xem xét điều chỉnh nội dung này.

3. Theo quy định tại điểm c khoản 4 Điều 102 Luật Đất đai năm 2013 thì cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi không phải là đất nhận chuyển nhượng, tặng cho sau ngày 01/7/2004; thực tế trên địa bàn tỉnh có một số trường hợp hộ gia đình, cá nhân đã chuyển nhượng, hiến tặng cho cơ sở tôn giáo từ ngày 01/7/2004 đến trước ngày 01/7/2014, các cơ sở tôn giáo đã xây dựng công trình và sử dụng ổn định cho mục đích tôn giáo, bởi vậy Luật Đất đai nên điều chỉnh cho phép công nhận và cấp giấy chứng nhận đối với những trường hợp này.

4. Về bồi thường hỗ trợ và tái định cư: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP quy định: “Trường hợp trong hộ gia đình quy định tại ……thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào quỹ đất ở, nhà ở tái định cư và tình hình thực tế tại địa phương quyết định mức đất ở, nhà ở tái định cư cho từng hộ gia đình”. Theo quy định trên khi vận dụng thì đối tượng được bồi thường bằng đất ở và giao nhà ở tái định cư rất rộng, trong khi đó quỹ đất ở tại một số địa phương trong tỉnh lại hạn chế nên khi thực hiện thu hồi đất mà phải bố trí tái định cư cho các hộ gặp khó khăn trong quá trình xem xét đối tượng và quỹ đất để bố trí tái định cư. Do đó đề nghị sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

5. Trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quy định tại điểm a khoản 2 Điều 82 của nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 đối với trường hợp người sử dụng đất do nhận chuyển quyền sử dụng đất, nhận thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trước ngày 01/7/2014 mà bên nhận chuyển quyền sử dụng đất chỉ có giấy chứng nhận của bên chuyển quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng, giấy tờ về chuyển quyền sử dụng đất theo quy định thì người nhận chuyển quyền sử dụng đất nộp đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong khi đó, tại khoản 4 Điều 9 của Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 quy định nộp đơn đăng ký biến động đất đai; như vậy chưa có sự thống nhất giữa quy định của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và của Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT.

6. Cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bị mất, theo khoản 2 Điều 77 của nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định quy định “sau 30 ngày kể từ ngày niêm yết…” ; điểm b khoản 2 Điều 10 của Thông tư 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 quy định “ Giấy xác nhận của UBND cấp xã về việc đã niêm yết thông báo mất giấy trong thời hạn 15 ngày…). Như vậy, giữa Thông tư 24/2014/TT-BTNMT và Nghị định 43/2014/NĐ-CP cũng chưa có sự thống nhất về thời gian niêm yết thông báo mất GCN.

7. Căn cứ Điều 37 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 “Cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất cấp đổi, cấp lại giấy chứng nhận” để phù hợp với tình hình thực tế của địa phương đề nghị điều chỉnh:

- Sở Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư; tổ chức, cá nhân nước ngoài; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;

- Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

8. Căn cứ khoản 1 Điều 64 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định “Hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình phải được người có tên trên giấy chứng nhận hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự ký tên”. Nhưng tại khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 định nghĩa hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất. Như vậy, khi hộ gia đình ký hợp đồng giao dịch thì được hiểu như thế nào, những người trong hộ gia đình cùng ký hoặc ủy quyền ký hợp đồng hay chỉ cần người có tên trên GCN ký là đảm bảo quy định của pháp luật.

* Về ký trên hợp đồng chuyển nhượng, chia tách, tặng cho…:

- Khoản 1 Điều 64 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định: “Hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình phải được người có tên trên Giấy chứng nhận hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự ký tên.”

- Khoản 5 Thông tư 02/2015/TT-BTNMT quy định: “Người có tên trên Giấy chứng nhận hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự quy định tại Khoản 1 Điều 64 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP chỉ được thực hiện việc ký hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất khi đã được các thành viên trong hộ gia đình sử dụng đất đồng ý bằng văn bản và văn bản đó đã được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật.”

Thực hiện theo luật đất đai trước đây trên địa bàn tỉnh Nam Định chỉ cấp cho cá nhân đối với trường hợp sống độc thân còn lại đều thể hiện là hộ gia đình (tài sản này là của vợ và chồng tạo lập lên, các con không đóng góp gì vào phần tạo lập tài sản này), gần đây theo quy định theo Luật đất đai mới thể hiện trên giấy chứng nhận là ông (bà) cùng với vợ (chồng). Vì vậy đối với trường hợp cấp trước đây ghi là hộ nay yêu cầu phải được các thành viên trong hộ gia đình sử dụng đất đồng ý mới được thực hiện chia tách, chuyển nhượng, tặng cho sẽ gặp rất nhiều khó khăn đối với trường hợp con cái đi làm ăn xa, thậm chí cả nước ngoài, hoặc các con còn vị thành niên…

9. Hiện nay, các quy định liên quan đến xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai được điều chỉnh bởi Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ; tuy nhiên, vấn đề xử lý vi phạm hành chính trong trường hợp “Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước” không được quy định cụ thể. Bên cạnh đó, trong các văn bản QPPL hướng dẫn thi hành cũng chưa quy định hay hướng dẫn chi tiết về việc này. Do vậy, căn cứ nào để “xử phạt vi phạm hành chính” đối với “Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước”? căn cứ nào chứng minh “Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành”để ra quyết định thu hồi đất khi vi phạm pháp luật về đất đai được quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai 2013. Đây là một trong những khó khăn đối với cơ quan thực hiện quản lý Nhà nước về đất đai và người thi hành công vụ trong lĩnh vực đất đai

10. Theo quy định tại khoản 3 điều 34 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP và Điều 5 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP thì trường hợp đã có quyết định thu hồi đất và có phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được phê duyệt theo quy định của pháp luật về đất đai trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện theo phương án đã phê duyệt và không áp dụng theo quy định của Nghị định này, tuy nhiên có phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt từ rất lâu nhưng không hoàn thành việc thu hồi đất GPMB, nay tiếp tục thực hiện GPMB nếu áp dụng phương án cũ thì không phù hợp; bởi vậy cần nghiên cứu sửa đổi quy định này cho phù hợp với thực tế.

11. Đề nghị xem xét bổ sung để giảm bớt thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai, như: tờ trình điều chỉnh quy hoạch, tờ trình dự án sử dụng đất lúa, tờ trình điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất.

Đề nghị Chính phủ cho phép dự án lớn hơn 10 ha đất trồng lúa khi đã có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và xem xét việc miễn giảm tiền thuê đất nuôi trồng thủy sản theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản.

12. Theo quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 175 và Điểm b khoản 2 Điểm b khoản 2 Điều 179 Luật Đất đai quy định tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền bán tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê; người mua tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định; trình tự thủ tục và hồ sơ thu hồi đất được quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 65 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 và khoản 1 Điều 13 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014; tuy nhiên trường hợp người người trúng đấu giá tài sản trên đất thuê do thực hiện bản án của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật, nhưng Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa quy định về trình tự, thủ tục hồ sơ thu hồi đất để cho người trúng đấu gái tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định. Đề nghị bổ sung nội dung này vào quy định cho phù hợp với thực tế.

13. Theo quy định tại Điều 31 và Điều 32 Luật Đầu tư năm 2014 thì thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư là Thủ tướng Chính phủ và UBND cấp tỉnh; như vậy căn cứ quy định nêu trên thì đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân lập dự án đầu tư để nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc chuyển mục đích thì UBND cấp huyện không được ban hành quyết định chủ trương đầu tư mà trường hợp này thì UBND cấp tỉnh ban hành chủ trương đầu tư.

Tại điểm a khoản 2 Điều 59 Luật Đất đai quy định Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân. Trường hợp cho hộ gia đình, cá nhân thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ với diện tích từ 0,5 héc ta trở lên thì phải có văn bản chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trước khi quyết định.

Theo quan điểm của chúng tôi để thống nhất giữa Luật Đầu tư năm 2014 và Luật Đất đai 2013 thì trường hợp hộ gia đình cá nhân lập dự án đầu tư để nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ với diện tích từ 0,5 héc ta trở xuống thì UBND cấp tỉnh ủy quyền cho UBND cấp huyện ban hành quyết định chủ trương đầu tư.

14. Theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành thì đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có nhu cầu sử dụng đất ngoài khu, cụm công nghiệp để thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam thông qua nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế trong nước, nhận chuyển nhượng vốn đầu tư là giá trị quyền sử dụng đất, chuyển đổi công ty, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp; nhận chuyển nhượng dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư… Nhà nước không thu hồi đất và giao đất, cho thuê đất đối với doanh nghiệp nước ngoài sử dụng đất ngoài các Khu, cụm công nghiệp, doanh nghiệp nước ngoài không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất như doanh nghiệp trong nước. Việc quy định nêu trên đã có sự phân biệt giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài, không thu hút được nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài; bởi vậy nên xem xét sửa đổi cho phù hợp.

15. Về quy định chi tiết việc cưỡng chế thi hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định tại Khoản 59 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 đã sửa đổi, bổ sung khoản 2 và bổ sung các khoản 3, 4, 5, 6, 7 và 8 vào Điều 91 của Nghị định số 43/2014/NĐ- CP.

Theo quy định tại Khoản 58 Điều 2 của Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 đã bổ sung Điều 90 a của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP thì trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết tranh chấp đất đai lần đầu mà các bên hoặc một trong các bên tranh chấp không có đơn gửi người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai lần hai thì quyết định giải quyết tranh chấp lần đầu có hiệu lực thi hành; trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết tranh chấp đất đai lần hai thì quyết định giải quyết tranh chấp đất đai lần hai có hiệu lực thi hành.

Theo quy định tại điểm 4 khoản 59 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP thì Chủ tịch UBND cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định giải quyết tranh chấp đất đai và tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế.

Theo quy định tại Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà cơ quan, tổ chức, cá nhân được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án hành chính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện. Thời hiệu khởi kiện 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính.

Đối chiếu các quy định nêu trên thì sau thời hạn 30 ngày kể từ ngày đương sự nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết tranh chấp lần hai, Chủ tịch UBND cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định giải quyết tranh chấp đất đai và tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế; tuy nhiên đến ngày thứ 31, thậm chí đến ngày thứ 365 (1 năm) đương sự đương sự khởi kiện tại tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện quyết định giải quyết tranh chấp đất đai và tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế.

    Như vậy, trường hợp quyết định giải quyết tranh chấp đất đai có hiệu lực pháp luật và đã được thi hành, nhưng sau đó (trong thời hạn 01 năm) công dân có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, nếu phán quyết của tòa án là quyết định giải quyết không đúng pháp luật thì việc khắc phục hậu quả sẽ khó giải quyết.

16. Theo quy định Khoản 56 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 đã sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 4 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai thì kiểm tra lại, thông báo cho người sử dụng đất biết rõ lý do và quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định.

Theo quy định nêu trên thì khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp GCN phát hiện GCN đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai thì cơ quan này có thể giao cho cơ quan tài nguyên môi trường hoặc cơ quan thanh tra cùng cấp thẩm tra xác minh và căn cứ vào kết quả kiểm tra để thu hồi GCN quyền sử dụng đất đã cấp không đúng quy định; tuy nhiên tại khoản 3 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 lại quy định việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều này do cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại Điều 105 của Luật này quyết định sau khi đã có kết luận của cơ quan thanh tra cùng cấp. Như vậy giữa Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định hướng dẫn thi hành chưa có sự thống nhất.

17. Theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 10 Luật Đất đai năm 2013 thì đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm: đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất; đất thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp...

Theo quy định tại Điểm g khoản 1 Điều 57 Luật đất đai năm 2013 thì trường hợp chuyển đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại, dịch vụ sang đất thương mại, dịch vụ; chuyển đất thương mại, dịch vụ, đất xây dựng công trình sự nghiệp sang đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp....thuộc trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Tại Điểm đ khoản 1 Điều 12 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 11 Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT quy định trường hợp chuyển đất thương mại, dịch vụ sang đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại, dịch vụ; chuyển đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại, dịch vụ hoặc đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp sang đất xây dựng công trình sự nghiệp.”.

2.2. Lĩnh vực Tài nguyên nước:

2.2.1. Công tác quản lý nhà nước:

- Tham mưu trình UBND tỉnh Nam Định ban hành kế hoạch số 30/KH-UBND ngày 12/3/2018 tổ chức các hoạt động hưởng ứng ngày Nước thế giới (22/3) với chủ đề "nước với thiên nhiên" với sự tham gia của 1500 đại biểu, cán bộ, hộ kinh doanh dịch vụ, đoàn viên thanh niên,... Ngoài ra, Sở Tài nguyên & Môi trường còn phối hợp với các Hội, đoàn thể khác trong tỉnh tổ chức các hoạt động tuyên truyền sâu rộng đến người dân trên địa bàn tỉnh. Thông qua các hoạt động mít tinh, tuyên truyền, vận động đã nâng cao nhận thức cho người dân về áp dụng các giải pháp dựa vào tự nhiên để giải quyết, ứng phó kịp thời với những thách thức về nguồn nước và biến đổi khí hậu diễn ra ngày càng tăng.   

 - Triển khai quy hoạch tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030. Lập đề án điều tra, đánh giá hiện trạng xả nước thải và khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước trên địa bàn tỉnh.

- Cấp phép khai thác nước mặt cho 04 đơn vị; khai thác nước ngầm cho 03 đơn vị; xả nước thải cho 10 đơn vị;

- Thẩm định 10/22 doanh nghiệp kê khai tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước. Hiện, UBND tỉnh đã phê duyệt được 7 đơn vị.

2.2.2. Những khó khăn vướng mắc

- Một số quy định hướng dẫn trong công tác quản lý tài nguyên nước chưa phân rõ trách nhiệm dẫn đến khó khăn trong việc phối hợp với các cấp, các ngành ở địa phương để cùng thống nhất quản lý, giám sát như: quản lý nguồn nước trên cùng lưu vực, việc giám sát xả thải, khai thác sử dụng tài nguyên nước; vấn đề quản lý các công trình thủy lợi; vấn đề kiểm soát trữ lượng, phát hiện ngăn chặn việc khai thác nước mặt, nước dưới đất trái phép hoặc kê khai không chính xác.

- Lực lượng cán bộ quản lý nhà nước về tài nguyên nước còn thiếu, trong khi đang phải thực hiện tinh giản biên chế; số cán bộ được đào tạo chuyên ngành về tài nguyên nước thiếu, hạn chế về số lượng ở cả cấp tỉnh và cấp huyện, cấp xã. Lực lượng cán bộ quản lý tài nguyên nước ở các cấp huyện, xã còn hạn chế do phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác.

- Trong quá trình thực hiện Nghị định 43/2015/NÐ-CP  chưa có hướng dẫn chi tiết về quy trình, quy phạm, thiết kế kỹ thuật, lập thẩm định dự toán thi công cắm mốc, quản lý mốc hành lang bảo vệ nguồn nước; trách nhiệm quản lý, bảo vệ,.. ở các tuyến sông nhất là tuyến sông lớn liên quan đến ranh giới giữa các tỉnh,...

- Việc kiểm soát, đánh giá thường xuyên được trữ lượng nguồn nước bổ cập, lượng nước sử dụng trên địa bàn tỉnh gặp khó khăn về kinh phí, thiết bị, phương án;

- Kinh phí cho điều tra cơ bản về tài nguyên nước để phục vụ cho công tác quản lý gặp khó khăn; kinh phí triển khai thực hiện quy hoạch hạn chế.

- Trang thiết bị cần thiết phục vụ cho hoạt động điều tra, quan trắc, phân tích, xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu tài nguyên nước chưa đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý.

2.2.3. Đề xuất, kiến nghị:

- Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về quản lý nhà nước trong lĩnh vực  tài nguyên nước: mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ ngành TN&MT ở các địa phương.

- Có quy chế quản lý tài nguyên nước liên vùng trong lưu vực sông để tăng cường quản lý, giám sát số lượng, chất lượng tài nguyên nước giữa các tỉnh trong từng lưu vực sông.

- Bố trí tăng cường quản lý nhà nước về tài nguyên nước ở cả ba cấp: tỉnh, huyện, xã.

- Có quy định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước về tài nguyên nước của các cấp, các ngành để tăng cường hoạt động thanh, kiểm tra giám sát, kịp thời phát hiện xử lý vi phạm trong lĩnh vực tài nguyên nước.

2.3. Lĩnh vực địa chất và khoáng sản

2.3.1. Công tác quản lý nhà nước:

- Ngoài tham mưu UBND tỉnh ban hàn 01 văn bản QPPL, Sở đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Chỉ thị số 06/CT-UBND ngày 14/3/2018 về việc tăng cường công tác quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Nam Định; Quyết định số 1275/QĐ-UBND ngày 19/6/2018 của UBND tỉnh về việc ban hành phương án bảo vệ khoáng sản chưa khai thác trên địa bàn tỉnh Nam Định;

- Cấp phép thăm dò cho 07 đơn vị; cấp mới giấy phép khai thác cho 02 đơn vị; phê duyệt trữ lượng cho 01 đơn vị.

- Công tác tính và thu tiền cấp quyền hoạt đồng khoáng sản: Năm 2018 đã có 14 doanh nghiệp được phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản (gồm 12 đơn vị khai thác đất sét làm gạch và 02 đơn vị khai thác cát) với số tiền là 7.920.650.790 đồng.

- Hoàn thành tổ chức đấu giá quyền khai thác 06 mỏ cát khu vực ven biển Giao Thủy theo Kế hoạch năm 2017 với số tiền trúng đấu giá trên 70 tỷ đồng;

- Tổng hợp ý kiến góp ý quy chế phối hợp quản lý khoáng sản ở khu vực giáp ranh giữa tỉnh Nam Định và Ninh Bình; lập danh sách cán bộ tiếp nhận thông tin và phối hợp xử lý trong thực hiện Quy chế phối hợp công tác quản lý khoáng sản.

2.3.2. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý, khắc phục vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (Đã báo cáo tại mục 1.4)

2.3.3. Tình hình thực hiện chỉ thị số 03/CT-TTg:

Thực hiện Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 30/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ, về việc tăng cường hiệu lực thực thi, chính sách pháp luật về khoáng sản. UBND tỉnh đã tổ chức quán triệt nội dung Chỉ thị cho các Sở, ban, ngành, địa phương và các đơn vị hoạt động khoáng trên địa bàn tỉnh. Cụ thể:

- Chỉ đạo các Sở, ban, ngành có liên quan; UBND các huyện, thành phố, UBND các xã, thị trấn tăng cường công tác thanh, kiểm tra, ngăn chặn và xử lý kiên quyết các vi phạm của các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản và các bến bãi tập kết vật liệu xây dựng . Tăng cường sự phối kết hợp giữa các cấp, các ngành và đoàn thể quần chúng trong đấu tranh, phòng chống tình trạng khai thác khoáng sản trái phép gây ảnh hưởng đến sự an toàn của các công trình thuỷ lợi, đê, kè và môi trường.

- UBND các huyện tự thành lập các đoàn liên ngành tăng cường kiểm tra, xử lý tổ chức, cá nhân vi phạm liên quan đến khai thác cát trái phép, vi phạm Luật đê điều, Luật đất đai, tập kết vật liệu trái phép không theo quy định. Lực lượng Bộ đội biên phòng tỉnh, Cảnh sát đường thủy, Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường tăng cường phối hợp, nắm tình hình tuần tra, kiểm tra, xử lý vi phạm.

Thông qua công tác kiểm tra đã tăng cường sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trong quản lý, giám sát hoạt động khoáng sản đặc biệt là khoáng sản cát trên địa bàn. Đến nay, trên các tuyến sông chính cơ bản đã hạn chế tình trạng khai thác cát trái phép.

2.3.4. Những khó khăn vướng mắc

- Công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động khai thác khoáng sản tuy đã được tăng cường, nhưng việc kiểm tra và xử lý hoạt động khai thác cát không có giấy phép trên các tuyên sông gặp rất nhiều khó khăn do thiếu phương tiện kiểm tra, hoạt động của nhóm đối tượng chủ yếu là hộ gia đình cá nhân diễn ra ở phân tán, lưu động trên các tuyến sông nhất là khu vực địa giới giáp ranh gây khó khăn trong kiểm soát, xử lý vi phạm.

- Kinh phí cho điều tra cơ bản địa chất khoáng sản, cho thẩm định, kiểm tra trữ lượng, kiểm kê mỏ và nhất là hoạt động bảo vệ khoáng sản chưa khai thác còn rất hạn chế. Lực lượng cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về khoáng sản thiếu thốn.

2.3.5. Đề xuất, kiến nghị:

- Tăng cường vai trò trách nhiệm của lực lượng công an, bộ đội trong kiểm tra, phát hiện xử lý răn đe các vi phạm trong khai thác trái phép, kinh doanh trái phép tài nguyên khoáng sản.

- Hướng dẫn các cơ sở lập và thực hiện việc đóng cửa mỏ khi đã khai thác xong hoặc hết thời gian cấp phép khai thác khoáng sản nhưng chưa được phê duyệt phương án cải tạo phục hồi môi trường.

- Tăng cường phân cấp trách nhiệm, nâng cao thẩm quyền xử phạt, chức năng và vai trò giám sát, xử lý của chính quyền cơ sở đối với các tổ chức, cá nhân đã được cấp phép hoạt động khoáng sản nhưng vi phạm các quy định trong quá trình thực hiện.

- Nghiên cứu ban hành quy định hướng dẫn sử dụng kinh phí thuê đơn vị tư vấn đo đạc trong việc kiểm tra tính toán khối lượng đã khai thác của các cơ sở (đặc biệt là khai thác cát sông, biển).

2.4. Lĩnh vực Môi trường

2.4.1. Tình hình triển khai Chỉ thị 25/CT-TTg ngày 31/8/2016 về một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách về BVMT

Thực hiện Chỉ thị số 25/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số nhiệm vụ và giải pháp cấp bách về bảo vệ môi trường, Sở đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 88/KH-UBND. Theo đó, đã thực hiện:

- Rà soát, thống kê có khoảng 19 cơ sở sản xuất có lưu lượng nước thải từ 200 m3/ngày đêm trở lên; 03 cơ sở sản xuất có lưu lượng thải từ 100-200 m3/ngày đêm; 28 cơ sở có lưu lượng xả thải dưới 100 m3/ngày đêm thuộc những ngành nghề sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao (dệt nhuộm, xi mạ,...).

- Hoàn thành xử lý: 03 điểm ô nhiễm tồn lưu do hóa chất bảo vệ thực vật, 6/6 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg và 16/16 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định 1788/QĐ-TTg.

- UBND tỉnh Nam Định đã quan tâm đầu tư hiện đại hóa trang thiết bị kỹ thuật phục vụ công tác quản lý nhà nước về BVMT. Cụ thể:

+ Đầu tư mở rộng, nâng cấp, cải tạo phòng thí nghiệm và đầu tư trang thiết bị nâng cao năng lực của Trung tâm Quan trắc và Phân tích TNMT trong việc triển khai chương trình quan trắc giám sát nước thải của các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các cơ sở sản xuất có nguồn thải ra lưu vực sông Đáy;

+ Phê duyệt và triển khai quy hoạch mạng lưới quan trắc môi trường tỉnh Nam Định;

+ Hoàn thiện hệ thống truyền - nhận dữ liệu quan trắc tự động liên tục

Trong thời gian tới Sở sẽ tiếp tục điều tra, rà soát các làng nghề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và lập dự án để xử lý, cải thiện môi trường làng nghề; Tham mưu UBND tỉnh xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện dự án “Điều tra, đánh giá, phân loại và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về nguồn thải” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 140/QĐ-TTg ngày 26/01/2018; hoàn thiện khảo sát, đánh giá sơ bộ 04 điểm ô nhiễm tồn lưu hóa chất BVTV làm căn cứ xây dựng tờ trình đề nghị UBND tỉnh cho lập báo cáo đề xuất chủ trương dự án.

2.4.2. Công tác kiểm soát, giảm thiểu các nguồn gây ô nhiễm môi trường

- Tổng số KCN, CCN đang hoạt động: 23 (trong đó KCN: 3; CCN: 20); Số KCN, CCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung: 04, trong đó KCN 02; CCN 02; Tỷ lệ KCN, CCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung: 17,4%

- Tình hình phát sinh, thu gom, xử lý chất thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn tỉnh:

+ Đối với khu vực thành phố: Tổng lượng chất thải sinh hoạt phát sinh khoảng 191,5 tấn/ngày; tổng lượng chất thải sinh hoạt được thu gom, xử lý khoảng 180 tấn/ngày; Tỷ lệ thu gom, xử lý đạt 94%.

+ Đối với khu vực nông thôn: tổng lượng rác thải sinh hoạt phát sinh khoảng 657,7 tấn/ngày; tổng lượng rác thải sinh hoạt thu gom khoảng 575,2 tấn/ngày; tỷ lệ thu gom rác thải khu vực nông thôn đạt 87,5%.

2.4.3. Công tác thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM; số lượng cơ sở được xác nhận hoàn thành

- Báo cáo ĐTM: Tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của 35 dự án trong đó trình UBND tỉnh phê duyệt báo cáo ĐTM của 29 dự án.

- Xác nhận các công trình, biện pháp BVMT: Tiếp nhận hồ sơ đề nghị xác nhận hoàn thành các công trình BVMT của 13 dự án. Trả lại 01 hồ sơ không hợp lệ; xác nhận hoàn thành 05 dự án; 07 hồ sơ đang chỉnh sửa.

2.4.4. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý, khắc phục vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (Đã báo cáo tại mục 1.4)

2.4.5. Vấn đề bảo vệ môi trường trong sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất, bảo vệ môi trường tại các làng nghề

* Bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu

- Cấp giấy xác nhận đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu cho 02 đơn vị; Tổ chức thực hiện kiểm tra nhà nước về chất lượng phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất và ban hành 25 Thông báo lô hàng đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu cho Công ty CP Trịnh Nghiên.

+ Lập báo cáo nhập khẩu phế liệu gửi Cục cảnh sát điều tra của Tổng cục Hải quan, Cục Cảnh sát môi trường và Bộ Tài nguyên và Môi trường; Văn bản gửi Cục hải quan tỉnh Bình Dương về việc xác nhận chứng từ nhập khẩu phế liệu của Công ty CP Trịnh Nghiên; văn bản gửi Hải quan Hà Nam Ninh v/v cung cấp chứng từ cấp phép nhập khẩu phế liệu của Công ty CP XNK TM Huyền Trang.

+ Ban hành văn bản xử lý tiêu hủy nguyên phụ liệu không đạt chất lượng gửi Công ty CP may xuất khẩu Yên Phú. Văn bản xem xét đồng ý việc xử lý tiêu hủy phế phẩm, phế liệu từ quá trình sản xuất của Công ty TNHH Golden Victory Việt Nam.

- Chuẩn bị hồ sơ tài liệu, phục vụ Đoàn Thanh tra Bộ TNMT về thanh tra việc chấp hành pháp luật về BVMT đối với công tác cấp Giấy chứng nhận/xác nhận đủ điều kiện về BVMT trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất và hoạt động nhập khẩu, sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất.

* Công tác bảo vệ môi trường tại các làng nghề:

- Tiếp tục triển khai dự án khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường của làng nghề cơ khí Bình Yên xã Nam Thanh, huyện Nam Trực. Đến nay dự án đã hoàn thiện xong giai đoạn 1 (khắc phục ô nhiễm môi trường làng nghề, thu gom, xử lý tro xỉ thải; xây dựng trạm trung chuyển CTNH, hệ thống thu gom nước thải và trạm xử lý nước thải tập trung, nạo vét kênh mương ô nhiễm) và tiếp tục triển khai thực hiện các gói thầu giai đoạn 2.

- UBND tỉnh đang chỉ đạo các Sở, ngành liên quan (Sở Nông nghiệp và PTNT, TNMT,…) lập đề án xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ di dời các cơ sở sản xuất thuộc làng nghề gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu dân cư và hỗ trợ các cơ sở sản xuất thuộc ngành nghề khuyến khích phát triển tại các làng nghề.

* Công tác thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt:

Hiện nay trên địa bàn tỉnh Nam Định rác thải được quản lý theo khu vực thành phố và khu vực nông thôn (9 huyện). Cụ thể:

- Khu vực thành phố: Được xử lý tại Khu liên hợp xử lý rác thải Lộc Hòa với Công suất thiết kế của nhà máy xử lý rác thải là 250 tấn rác/ngày, công suất xử lý thực tế: 180 tấn/ngày có tổng diện tích là 23,7ha, đi vào hoạt động từ năm 2003, trong đó nhà máy xử lý rác thải (nhà xưởng phân loại rác sản xuất phân compost, lò đốt rác vô cơ, công nghiệp) có diện tích 3ha, diện tích dành cho việc xây dựng bãi chôn lấp hợp vệ sinh là 20,7ha. Tỷ lệ xử lý đạt khoảng 94%.

- Khu vực nông thôn (9 huyện): 183/204 xã, thị trấn đã xây dựng công trình xử lý rác sinh hoạt, trong đó có 106 xã xây dựng bãi chôn lấp (có 31 xã có cả bãi chôn lấp và lò đốt) và 97 xã có lò đốt. Khu vực nông thôn: 204/204 xã, thị trấn đã tổ chức thu gom rác thải sinh hoạt. Ước tính: tổng lượng rác thải phát sinh là 660 tấn/ngày; tổng lượng rác thải thu gom là 580 tấn/ngày; tỷ lệ thu gom rác thải khu vực nông thôn đạt 87,8%.

2.4.6. Một số mô hình xử lý rác thải mang lại hiệu quả trên địa bàn.

- Dự án “Xây dựng Trạm xử lý chất thải nguy hại tỉnh Nam Định” do Công ty CP Đầu tư và Kỹ thuật TNMT ETC thực hiện trên mặt bằng 2,133 ha của  Trạm trung chuyển CTNH thuộc KCN Hòa Xá (Trạm trung chuyển CTNH được xây dựng từ kinh phí của Dự án Thụy Sỹ do Sở Tài nguyên và Môi trường quản lý). Dự án kế thừa toàn bộ cơ sở hạ tầng của Trạm trung chuyển CTNH. Trạm xử lý có công suất xử lý 20.000 tấn CTNH/năm. Công ty CP Đầu tư và KT TNMT ETC đã được Bộ TNMT cấp Giấy phép xử lý chất thải nguy hại Mã số QLCTNH: 1-2-3-4-5-6.093.VX ngày 30/5/2016; Giấy phép có hiệu lực đến ngày 30/5/2019. Công ty được phép vận chuyển, xử lý chất thải rắn công nghiệp.

- Mô hình lò đốt chất thải rắn sinh hoạt LOSHIHO tại xã Xuân Tiến do Công ty TNHH Tân Thiên Phú thực hiện: có công suất 500 kg/h; vận hành từ cuối năm 2012. Được thực hiện trên nền bãi chôn lấp xử lý rác thải tập trung của xã Xuân Tiến, huyện Xuân Trường. Hiện nay, Công ty TNHH Tân Thiên Phú đang tiến hành cải tạo lò đốt để đáp ứng với yêu cầu kỹ thuật về môi trường theo quy định tại QCVN 61-MT:2015/BTNMT của Bộ TNMT về lò đốt chất thải rắn sinh hoạt.

- Mô hình lò đốt rác thải tại Thị trấn Ngô Đồng do Công ty TNHH MTV Xây dựng và Môi trường Thảo Nguyên thực hiện. Được thực hiện trên nền khu xử lý rác thải sinh hoạt của TT Ngô Đồng. Lò đốt rác thải có công suất là 500kg/h; đi vào hoạt động từ tháng 11/2013, hiện nay vẫn đang hoạt động bình thường.

- Mô hình công viên rác thải tại TT Xuân Trường do Công ty TNHH Tân Thiên Phú thực hiện. Được thực hiện trên nền khu xử lý rác thải cũ của Thị trấn Xuân Trường với diện tích khoảng 1ha và diện tích mở rộng để lắp đặt lò đốt. Lò đốt chất thải rắn sinh hoạt công suất 1.000kg/h; vận hành từ tháng 8/2017

- Mô hình “Nhà máy xử lý chất thải, tái chế phế liệu Nam Giang” do Công ty TNHH MTV Môi trường xanh Nam Trực thực hiện tại Thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực. Được thực hiện tại khu xử lý rác thải cũ của Thị trấn Nam Giang. Hiện nay chủ đầu tư đang vận hành thử nghiệm lò đốt.

2.4.7. Những khó khăn, bất cập và những vấn đề nổi cộm trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường ở địa phương:

1. Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ:

- Phụ lục II của Nghị định quy định - Danh mục dự án phải thực hiện đánh giá tác động môi trường:

+ Tại số thứ tự 15: Dự án xây dựng cơ sở sản xuất gạch ngói với quy mô công suất là 100 triệu viên gạch, ngói quy chuẩn/năm trở lên thì phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường. Đây là quy mô rất lớn hầu như hiếm xảy ra trong thực tế (Tỉnh Nam Định từ trước đến nay chưa có dự án nào đạt quy mô công suất như trên, phổ biến từ 10 triệu viên gạch đến 30 triệu viên gạch/năm). Vì vậy, cần xem xét lại quy mô công suất của dự án cho phù hợp với thực tế.

+ Tại số thứ tự 46: dự án xây dựng hệ thống xử lý nước thải đô thị tập trung hoặc nước thải công nghiệp tập trung cần nêu rõ nước thải công nghiệp tập trung là như thế nào? Một số doanh nghiệp (kể cả nằm trong hoặc ngoài khu công nghiệp) xây dựng hệ thống xử lý nước thải có coi là xử lý nước thải tập trung hay không? Một số cơ sở có lượng nước thải phải xử lý khá lớn tới hàng ngàn m3. Đối với dự án xử lý nước thải sinh hoạt thì sẽ áp dụng theo mục nào?.

+ Tại số thứ tự 47: Dự án xây dựng nhà máy luyện kim thì tất cả dự án có sử dụng nguyên liệu là phế liệu phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường có phù hợp không?

- Phụ lục IV của Nghị định quy định về Danh mục các đối tượng không phải đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường:

+ Tại số thứ tự 4: Dịch vụ thương mại, buôn bán các sản phẩm hàng hoá tiêu dùng, đồ gia dụng nên quy định với diện tích kinh doanh bao nhiêu m2 sàn (Liên quan đến số thứ tự 6 trong phụ lục IV).

+ Tại số thứ tự 5: Dịch vụ ăn uống có quy mô diện tích nhà hàng phục vụ dưới 200 m2: Cần nêu rõ là diện tích m2 sàn hay diện tích mặt bằng?

2. Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT ngày 29/5/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường:

+ Theo khoản 2 điều 32 quy định trách nhiệm xác nhận đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường đối với những cơ sở sản xuất kinh doanh quy mô hộ gia đình nằm trên địa bàn 01 xã thì UBND huyện có thể uỷ quyền cho UBND cấp xã xác nhận đối với những dự án không thuộc đối tượng quy định tại Phụ lục 5.1 Thông tư này, tuy nhiên đối với các làng nghề về cơ khí (hoạt động chủ yếu quy mô hộ gia đình) thì thuộc thẩm quyền xác nhận của Sở Tài nguyên và môi trường nên thực hiện có thể dẫn đến sự chồng chéo, không rõ ràng.

+ Tại phụ lục 3.2 về mẫu báo cáo kết quả thực hiện công trình bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành dự án yêu cầu lấy mẫu để đánh giá hiệu quả xử lý của công trình bảo vệ môi trường nhưng không nêu rõ tối thiểu là bao nhiêu lần để chủ dự án thực hiện. Nếu chỉ tiến hành lấy mẫu 01 lần thì không đánh giá được tính ổn định của hệ thống trong thời gian dự án hoạt động bình thường.

3. Thông tư số 26/2015/TT-BTNMT ngày 28/5/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định đề án bảo vệ môi trường chi tiết, đề án bảo vệ môi trường đơn giản:

Theo quy định tại điều 9 của Thông tư này đối với những cơ sở chưa hoàn thành các công trình bảo vệ môi trường: Sau khi hoàn thành toàn bộ các công trình bảo vệ môi trường theo yêu cầu tại quyết định phê duyệt đề án chi tiết, gửi văn bản báo cáo hoàn thành toàn bộ các công trình đến cơ quan thẩm định, phê duyệt để kiểm tra theo mẫu quy định tại Phụ lục 12 Thông tư này. Tuy nhiên trong Thông tư không quy định sau khi kiểm tra và cơ sở hoàn thành xong toàn bộ công trình theo yêu cầu quyết định phê duyệt thì cơ quan phê duyệt sẽ ban hành cho cơ sở loại văn bản gì liên quan tới việc kiểm tra.

4. Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu, Thông tư 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại:

+ Đối với trạm trung chuyển chất thải nguy hại cần bổ sung quy định về quy cách của trạm trung chuyển CTNH là như thế nào? Cấp phép hoạt động thế nào?

+ Báo cáo quản lý CTNH: Tại khoản 5 điều 7 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu quy định  chủ nguồn thải có trách nhiệm định kỳ 06 tháng/lần báo cáo về việc lưu giữ tạm thời CTNH trong trường hợp chưa tìm được chủ xử lý; chưa có phương án vận chuyển, xử lý khả thi; tuy nhiên Theo quy định tại khoản 6 điều 6 của Thông tư 36/2015/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chủ nguồn thải  CTNH báo cáo định kỳ quản lý CTNH 01 lần/năm: Cần xem xét lại cho thống nhất giữa Thông tư với Nghị định.

+ Theo quy định tại Khoản 1, Điều 93 Luật Bảo vệ Môi trường và Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 về quản lý chất thải và phế liệu, theo đó quy định về điều kiện để cơ sở được cấp Giấy phép xử lý chất thải nguy hại có quy định: địa điểm của cơ sở xử lý chất thải nguy hại thuộc quy hoạch về quản lý, xử lý chất thải do cơ quan có thẩm quyền từ cấp tỉnh trở lên phê duyệt theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên chưa có các quy định cụ thể đối với việc quy hoạch với quy mô nào sẽ do UBND tỉnh phê duyệt hoặc Bộ TNMT phê duyệt; quy định về trách nhiệm của cơ quan nào phải lập quy hoạch và quy định về trình tự lập, phê duyệt quy hoạch về quản lý, xử lý chất thải.

5. Thông tư số 41/2015/TT-BTNMT ngày 09/9/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất:

- Theo quy định tại khoản 1 Điều 10 yêu cầu về bảo vệ môi trường trong kiểm tra, thông quan phế liệu nhập khẩu: cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo bằng văn bản theo mẫu quy định tại Phụ lục 12 sau khi nhận được Thông báo về lô hàng nhập khẩu phế liệu. Trong mẫu tại Phụ lục 12 có mục “Tổng khối lượng phế liệu được phép nhập khẩu theo Giấy xác nhận”, tuy nhiên theo Giấy xác nhận thực hiện theo Thông tư liên tịch số 34/2012/TTLT-BCT-BTNMT về nhập khẩu phế liệu không ghi tổng khối lượng phế liệu được phép nhập khẩu. Đề nghị xem xét hướng dẫn thêm.

- Đề nghị bỏ điểm b khoản 1 Điều 8 của Thông tư (Thu hồi Giấy xác nhận trong trường hợp “Tổ chức, cá nhân nhập khẩu phế liệu sau thời hạn một (01) năm kể từ ngày được cấp Giấy xác nhận mà không tiến hành việc nhập khẩu”: Không nên quy định như vậy vì không phù hợp (nhiều trường hợp bất khả kháng vì lý do kinh tế...).

- Tại phụ lục 1 - Quy mô khối lượng nhập khẩu phế liệu thuộc thẩm quyền cấp giấy xác nhận của Bộ Tài nguyên và Môi trường: Đề nghị điều chỉnh tăng khối lượng lại cột quy mô tổng khối lượng phế liệu nhập khẩu/năm cho phù hợp với thực tế hoạt động của các cơ sở (thực tế hầu hết các cơ sở nhập khẩu phế liệu đều lớn hơn mức giới hạn tại cột này nên sẽ tạo áp lực giải quyết thủ tục rất lớn lên Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng như khó khăn cho các doanh nghiệp từ các địa phương xa trụ sở Bộ) và tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở khi thực hiện thủ tục này.

6. Đối với Nghị định số 25/2013/NĐ-CP ngày 29/3/2013 của Chính phủ về phí BVMT đối với nước thải và Thông tư liên tịch số 63/2013/TTLT-BTC-BTNMT ngày 15/5/2013 của Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 25:

- Đề nghị làm rõ khái niệm về nước thải công nghiệp; hiện nay giữa Nghị định 25; Thông tư 63 và QCVN 40:2011/BTNMT: khái niệm về nước thải công nghiệp đang không thống nhất gây khó khăn trong việc triển khai.

- Hiện nay theo quy định tất cả các cơ sở phát sinh nước thải công nghiệp dưới 30 m3/ngày đêm đều áp dụng 1 mức thu phí (1,5 triệu hoặc 3 triệu) nên khi triển khai thu phí đối với cơ sở phát sinh nước thải dưới 2-3 m3/ngày đêm gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện

2.4.8. Đề xuất, kiến nghị:           Đề nghị Chính phủ, các Bộ ngành Trung ương:

- Chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện các thể chế chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về Bảo vệ môi trường theo hướng đơn giản, không chồng chéo, rõ nhiệm vụ từng ngành và mang tính răn đe cao. Hạn chế tình trạng cùng một lĩnh vực mà nhiều Bộ, ngành cùng quản lý.

- Tập trung hỗ trợ đầu tư cơ bản đối với các hạng mục công trình BVMT lớn và các công trình BVMT khu vực cộng đồng dân cư.

- Tăng cường năng lực về vật chất và nhân lực cho bộ máy quản lý về bảo vệ môi trường ở các cấp, nhất là cấp địa phương: Sở Tài nguyên và Môi trường, cấp huyện và cấp xã.

- Đầu tư nguồn lực tài chính hơn nữa cho công tác BVMT như tăng tỉ lệ chi sự nghiệp môi trường lên hơn 1% chi ngân sách.

2.5. Lĩnh vực biến đổi khí hậu

2.5.1. Việc triển khai thực hiện nhiệm vụ về BĐKH

- Tham mưu UBND tỉnh phê duyệt lập Đề án nhiệm vụ “Cập nhật Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Nam Định. Hiện đang triển khai thực thực hiện và dự kiến hoàn thành trong tháng 12/2018;

- Tham mưu trình UBND tỉnh phê duyệt Quyết định số 2669/QĐ-UBND ngày 28/11/2018 về  Đề cương và dự toán chi tiết nhiệm vụ “Đánh giá khí hậu tỉnh Nam Định”. Hiện Sở đang triển khai thực hiện.

2.5.2. Việc triển khai các dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu

Thực hiện Quyết định số 1183/QĐ-TTg ngày 30/8/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2012-2015, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu UBND tỉnh triển khai dự án Phục hồi tài nguyên, hệ sinh thái bị suy thoái vùng ven bờ tỉnh Nam Định. Năm 2018, đã tổ chức bàn giao 36,1 ha cho xã Nghĩa Hùng và xã Nghĩa Hải để trực tiếp quản lý và chăm sóc bảo vệ sau khi kết thúc dự án.

2.5.3. Đề xuất, kiến nghị

Từ công tác triển khai thực hiện tại các địa phương tỉnh Nam Định, đề nghị các Bộ, ban ngành xây dựng, hoàn thiện các thể chế chính sách, văn bản pháp luật, giao trách nhiệm rõ ràng về nhiệm vụ cho các cấp, các ngành trong việc xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch ứng phó BĐKH. Đồng thời quan tâm đến việc đào tạo, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ thực hiện nhiệm vụ chuyên môn ứng phó với BĐKH nhất là cấp huyện cấp xã. Cũng như đầu tư kinh phí cho việc thực hiện các chương trình nhiệm vụ ứng phó với BĐKH, nhất là các địa phương các lĩnh vực chịu ảnh hưởng tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu.

2.6. Lĩnh vực khí tượng thủy văn

2.6.1. Sự phối hợp giữa Sở Tài nguyên và Môi trường với các đơn vị khí tượng thủy văn thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường trong việc phòng chống lũ lụt, bão, hạn hán và các hiện tướng khí tượng thủy văn nguy hiểm xảy ra trên địa bàn tỉnh

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Nam Định có 2 trạm khí tượng (Nam Định, Văn Lý), 3 trạm thủy văn (Nam Định, Phú Lễ, Trực Phương). Công tác quan trắc, quản lý dữ liệu và lập các bản tin dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn được thực hiện bởi Đài khí tượng thủy văn Nam Định (trực thuộc Đài khí tượng thủy văn khu vực Đồng bằng Bắc Bộ). Hàng tuần, Đài khí tượng thủy văn tỉnh đều gửi bản tin dự báo khí tượng thủy văn cho các ngành, các địa phương trong tỉnh. Tuy nhiên, hiện tại vai trò quản lý nhà nước lĩnh vực khí tượng thủy văn chưa được phát huy hiệu quả cao. Tình trạng nhiều công trình khí tượng thủy văn chưa được quan tâm bảo vệ đúng mức để duy trì điều kiện hoạt động ổn định lâu dài và phát huy tác dụng. Nguyên nhân là do trong quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình khác ở địa phương không đảm bảo quy định về hành lang an toàn cho công trình khí tượng thủy văn hoạt động.

Để khắc phục trình trạng như trên và thiết lập cơ chế phối hợp đồng bộ, quy định trách nhiệm phối hợp giữa các Sở, Ban ngành, các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan, Sở tham mưu UBND tỉnh ban hành Quy chế phối hợp quản lý hoạt động khí tượng thủy văn trên địa bàn tỉnh Nam Định và đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 27/2018/QĐ-UBND ngày 09/11/2018.

  2.6.2. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật để người dân hiểu rõ và phòng, tránh các hiện tượng khí tượng thủy văn nguy hiểm

  Luôn quan tâm và chú trọng đến công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức thông qua các lớp tập huấn, các chương trình truyền thông, các chương trình hợp tác quốc tế và với các tổ chức phi chính phủ (NGO), lồng ghép công tác tuyên truyền về Luật Khí tượng thủy văn năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật KTTV; phòng, tránh các hiện tượng khí tượng thủy văn nguy hiểm; ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường với các hoạt động của các tổ chức đoàn thể, địa phương và các ngày kỷ niệm hàng năm đó là: Ngày nước Thế giới, Ngày Khí tượng thế giới, Tuần lễ Biển và Hải đảo, ngày Đại dương thế giới, ngày Môi trường thế giới, ngày Đất ngập nước;...

2.6.3. Đề xuất, kiến nghị

Nhà nước có văn bản quy định rõ việc quan trắc cung cấp thông tin dữ liệu khí tượng thủy văn và xây dựng các nội dung  dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn ở cấp địa phương được tập trung về cơ quan quản lý nhà nước là ngành Tài nguyên và môi trường để đảm bảo sự thống nhất trong quản lý và cung cấp thông tin dữ liệu, tránh gây lãng phí, thiếu thống nhất.

- Tăng cường đầu tư, trang thiết bị nhằm phục vụ cho công tác quan trắc, cảnh báo ứng phó với biến đổi hậu, giảm nhẹ rủi ro do thiên tai gây ra và đào tạo nâng cao năng lực cán bộ, đáp ứng với với yêu cầu nhiệm vụ của cả nước và nhất là cấp tỉnh.

2.7. Lĩnh vực đo đạc, bản đồ và viễn thám

a. Công tác quản lý hoạt động đo đạc, bản đồ và viễn thám:

- Ban hành Hướng dẫn 1021/HD-STNMT ngày 3/5/2018 dẫn cụ thể về việc đo đạc để cấp GCNQSDĐ cho các trường hợp được hợp thức hoá QSD đất.

- Số lượng giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ đã cấp: tính đến năm 2018, trên địa bàn Nam Định có 13 tổ chức được cấp phép hoạt động đo đạc và bản đồ giấy phép còn hiệu lực.

- Công tác đo đạc lập bản đồ gắn liền với việc lập hồ sơ địa giới hành chính: trong năm 2018, trên địa bàn tỉnh không có công trình đo đạc nào gắn với việc lập hồ sơ địa giới hành chính.

b. Những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động quản lý hoạt động đo đạc bản đồ và viễn thám:

- Công tác đo đạc và bản đồ thường xuyên phải đi trước một bước để đáp ứng công việc quản lý nhà nước nhưng kinh phí lại rất hạn chế cho đo đạc bản đồ nói chung và bản đồ địa chính nói riêng. Khi đo đạc bản đồ địa chính xong lại không có kinh phí để thành lập hồ sơ Địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính gây lãng phí công sức và làm cho quản lý nhà nước về đất đai không chặt chẽ.

- Một số quy định của Thông tư 25/2014/TT-BTNMT quy định về bản đồ địa chính khi áp dụng trong điều kiện thực tế thì gặp rất nhiều khó khắn, vướng mắc..

- Việc quản lý các hoạt động Đo đạc và Bản đồ chuyên nghành khác còn gặp nhiều khó khăn do các quy định còn thiếu sự thống nhất giữa các ngành, Luật Đo đạc và bản đồ đã ban hành nhưng chưa có các văn bản hướng dẫn thi hành.

2.8. Lĩnh vực quản lý tổng hợp thống nhất về biển và hải đảo

a. Công tác giao, sử dụng khu vực biển:

- Trình UBND tỉnh ban hành Quyết định số 940/QĐ-UBND ngày 10/5/2018 về việc giao khu vực biển cho Công ty cổ phần sông Đà Hà Nội với diện tích được phép sử dụng là 42,69 ha.

- Tiến hành rà soát, thống kê các tài liệu liên quan đến giao, cho thuê khu vực ven biển tỉnh Nam Định trên địa bàn 03 huyện ven biển theo Kế hoạch “Rà soát thực trạng giao, cho thuê khu vực biển và đề xuất phương án giao, cho thuê khu vực biển theo quy định của pháp luật”.

b. Công tác bảo vệ môi trường biển:

- Trình UBND tỉnh ban hành Quyết định số 111/QĐ-UBND ngày 16/01/2018 và Quyết định số 2565/QĐ-UBND ngày 12/11/2018 phê duyệt Kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu của 02 đơn vị; hướng dẫn xử lý sự cố tràn dầu do cháy nổ đối với 01 đơn vị.

- Tổ chức hội nghị “Tuyên truyền pháp luật về quản lý tài nguyên và môi trường biển”; “tập huấn nâng cao năng lực quản lý tổng hợp vùng bờ và ứng phó sự cố tràn dầu”.

- Tham mưu UBND tỉnh phê duyệt Đề án “Thiết lập hành lang bờ biển tỉnh Nam Định”: Hiện Đơn vị tư vấn đã tiến hành điều tra, thu thập các thông tin tài liệu về hiện trạng tài nguyên, thiên nhiên vùng bờ, dự kiến hoàn thành trong quý I/2019.

            - Hoàn thành việc tổ chức quan trắc chất lượng nước biển, sinh vật biển và trầm tích biển khu vực ven biển tỉnh Nam Định theo Kế hoạch “Quan trắc phục vụ kiểm soát ô nhiễm môi trường biển”.

c. Những khó khăn, bất cập trong công tác quản lý tài nguyên môi trường biển

1. Tại khoản 2 Điều 79 của Luật Tài nguyên, Môi trường biển, hải đảo quy định Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển có trách nhiệm thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển thuộc phạm vi quản lý. Tuy nhiên việc xác định ngoài thực địa mực nước triều cao trung bình nhiều năm, đường mép nước biển thấp nhất trung bình nhiều năm và tổ chức cắm mốc gặp rất nhiều khó khăn do chưa có Thông tư hướng dẫn xác định vị trí phải thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển.

2. Một số văn bản pháp luật về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo đã có hiệu lực thi hành nhưng không có thông tư hướng dẫn cụ thể về kỹ thuật, đối tượng được giao, chưa rõ về ranh giới quản lý do đó việc áp dụng vào thực tế còn lúng túng như Nghị định 51/2014/NĐ-CP ngày 21/5/2014 của Chính phủ quy định việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển.

3. Việc thực hiện Quy chế phối hợp quản lý bảo tồn và phát triển bền vững Khu dự trữ sinh quyển đất ngập nước liên tỉnh ven biển Đồng bằng Châu thổ Sông Hồng (theo Quyết định số 466/QĐ-UBQG UNESCO ngày 26/7/2013 của Uỷ ban quốc gia UNESCO Việt Nam) đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên hiệu quả quản lý nhà nước, cơ chế và tổ chức thực hiện đối với việc bảo tồn và phát triển bền vững KDTSQ sông Hồng vẫn chưa đáp ứng được so với yêu cầu thực tiễn do thiếu nguồn lực về tài chính để tổ chức triển khai thực hiện.

3. Các nhiệm vụ trọng tâm năm 2019 theo từng lĩnh vực

Căn cứ tình hình thực hiện năm 2018 và xu thế phát triển, dự kiến khả năng thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của Sở Tài nguyên và Môi trường năm 2019 như sau:

3.1. Những nhiệm vụ chung:

1. Tập trung chỉ đạothực hiện hoàn thành các chỉ tiêu Kế hoạch, nhiệm vụ được giao và nhiệm vụ trọng tâm ngành TN&MT trong năm 2019.

2. Tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức và hành động của tổ chức, cá nhân và nhân dân trong việc chấp hành pháp luật về tài nguyên và môi trường. Đặc biệt về lĩnh vực đất đai, môi trường, khoáng sản; kịp thời hướng dẫn các văn bản QPPL về tài nguyên và môi trường cho đội ngũ chuyên môn, nghiệp vụ của ngành tài nguyên và môi trường trên địa bàn tỉnh.

3. Tiếp tục rà soát các văn bản QPPL thuộc thẩm quyền của HĐND tỉnh, UBND tỉnh để tham mưu ban hành và tổ chức thực hiện; tiếp tục thực hiện và tham mưu lập và tổ chức thực hiện các danh mục, đề án, báo cáo chương trình công tác năm 2019 của UBND tỉnh đảm bảo chất lượng, đúng thời gian quy định.

4. Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực đất đai, môi trường, khoáng sản, tài nguyên nước, ngăn chặn các hoạt động gây ô nhiễm và suy thoái môi trường biển; tiếp tục thực hiện Kế hoạch số 94/KH-UBND, ngày 14/12/2016 của UBND tỉnh tổ chức thực hiện đề án “Tăng cường xử lý vi phạm về quản lý, sử dụng đất đai giai đoạn đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Nam Định” và Kế hoạch số 75/KH-UBND thực hiện Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 03/01/2018 của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh, tăng cường công tác quản lý đất đai và xây dựng hệ thống thông tin đất đai trên địa bàn tỉnh; Kế hoạch số 95/KH-UBND, ngày 16/10/2018 về thực hiện Kết luận số 43-KL/TU ngày 22/8/2018 của BCH Đảng bộ tỉnh tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 17-NQ/TU ngày 17/7/2012 của BCH Đảng bộ tỉnh;

5. Tập trung giải quyết các vụ việc tồn đọng, kéo dài, phức tạp và vụ việc khiếu kiện đông người; tăng cường đối thoại nhằm hạn chế đơn thư, khiếu nại, tố cáo của công dân; giải quyết, xử lý tốt các kiến nghị của cử tri, của đại biểu HĐND tỉnh.

3.2. Nhiệm vụ cụ thể cho từng lĩnh vực:

1. Lĩnh vực đất đai:

 Tiếp tục kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn cấp huyện việc chỉnh lý bản đồ, hồ sơ địa chính, cấp đổi GCN QSDĐ nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa;

 Tiếp tục đôn đốc, hướng dẫn cấp huyện tập trung lập phương án xử lý đối với hộ SDĐ không hợp pháp trước khi có Nghị Quyết 17/NQ-TU của BCH đảng bộ Tỉnh;

1.3. Tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) của tỉnh Nam Định”; tổ chức thực hiện KHSDĐ năm 2019; xây dựng KHSDĐ năm 2020 và tổ chức đấu giá đất ở, thu tiền SDĐ.

1.4. Giải quyết kịp thời các thủ tục giao đất, cho thuê đất, tháo gỡ vướng mắc, khó khăn trong công tác GPMB các công trình trọng điểm, công trình phục vụ yêu cầu phát triển KT-XH của tỉnh; đề xuất giải pháp tạo quỹ đất sạch, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp triển khai dự án đầu tư.

1.5. Tập trung đẩy nhanh việc cấp GCNQSDĐ cho cơ quan, tổ chức, cơ sở tôn giáo; tăng cường công tác quản lý việc sử dụng đất của các cơ sở tôn giáo chưa được cấp GCNQSDĐ; cấp đổi, cấp lại GCNQSDĐ và giao dịch đảm bảo; thực hiện thống kê đất đai định kỳ, triển khai Kiểm kê đất đai định kỳ 5 năm.

1.6. Tổ chức thực hiện hiệu quả  “Dự án tổng thể xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý đất đai của tỉnh thuộc dự án vay vốn Ngân hàng Thế giới (WB) giai đoạn 2016-2020 ”; tiếp tục tham mưu cho UBND tỉnh phối hợp với Bộ TN&MT đẩy nhanh tiến độ Dự án xây dựng CSDL đất đai huyện Ý Yên và TP. Nam Định.

2. Lĩnh vực môi trường:

2.1. Hướng dẫn, đôn đốc và kiểm tra UBND các huyện còn lại hoàn thành các chỉ tiêu về môi trường năm 2019; giám sát, đôn đốc vận hành có hiệu quả các công trình xử lý môi trường; duy trì và nâng cao chất lượng thực hiện tiêu chí 17 ở các xã, thị trấn đã đạt chuẩn NTM. Hướng dẫn, thẩm tra các huyện, xã đạt tiêu chí môi trường nông thôn mới;

2.2. Tiếp tục triển khai Kế hoạch 24/KH-UBND ngày 26/4/2013 của UBND tỉnh về việc thực hiện một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường theo Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 18/3/2013 của Chính phủ; Kế hoạch số 88/KH-UBND ngày 23/11/2016 về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 31/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách về bảo vệ môi trường; Kế hoạch số 17/KH-UBND ngày 19/3/2014 thực hiện Chiến lược bảo vệ môi trường tỉnh Nam Định đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

2.3. Nâng cao chất lượng thẩm định đánh giá tác động môi trường, biện pháp bảo vệ môi trường , xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường của các dự án; tiếp tục tập trung đôn đốc các KCN, CCN, các cơ sở sản xuất có lượng xả thải lớn thiết lập quan trắc online  và tổ chức vận hành, kiểm soát môi trường theo quy định; kêu gọi và đẩy mạnh xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường nhằm huy động nguồn lực tham gia bảo vệ môi trường về xử lý rác thải, nước thải.

2.4. Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện quan trắc hiện trạng môi trường tỉnh, quan trắc hiện trạng số lượng tài nguyên nước trên các tuyến sông và 11 cụm giếng trên địa bàn tỉnh Nam Định; Tổ chức thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nam Định theo quy định của pháp luật.

3. Lĩnh vực quản lý tài nguyên môi trường biển và biến đổi khí hậu:

3.1. Quan trắc phục vụ kiểm soát ÔNMT biển; rà soát thực trạng giao, cho thuê khu vực biển và đề xuất phương án giao cho thuê khu vực biển theo quy định của pháp luật.

3.2. Tổ chức công khai và thực hiện lập hành lang bảo vệ bờ biển để phục vụ việc quản lý vùng bờ biển tỉnh Nam Định;

3.3. Tổ chức công khai và thực hiện cập nhật Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Nam Định”;

3.4. Xây dựng Đề cương và dự toán chi tiết nhiệm vụ “Cập nhật Kế hoạch thực hiện thỏa thuận Paris về BĐKH tỉnh Nam Định”

4. Lĩnh vực tài nguyên nước, khoáng sản:

4.1. Tiếp tục tham mưu đấu giá quyền khai thác khoáng sản; tổ chức thực hiện tốt quy chế phối hợp hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh.

4.2. Tổ chức công khai và thực hiện Đề án điều tra và đánh giá hiện trạng xả nước thải và khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước trên địa bàn tỉnh sau khi được phê duyệt.

4.3. Đẩy mạnh công tác cấp giấy phép và giám sát việc thực hiện khai thác tài nguyên nước theo quy định pháp luật; Hoàn thành viêc thẩm định tính tiền cấp quyền khai thác TNN đối với các đơn vị kê khai nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo Nghị định số 82/2017/NĐ-CP;

5. Cải cách hành chính- Bộ máy tổ chức:

5.1. Tập trung chỉ đạo thực hiện các biện pháp để nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Trong đó, tập trung vào chỉ số thành phần của chỉ số tiếp cận đất đai có thứ hạng thấp; tiếp tục chỉ đạo thực hiện nghiêm Kế hoạch số 58/KH-UBND, ngày 01/7/2016 của UBND tỉnh về đẩy mạnh CCHC, nâng cao năng lực cạnh tranh, xúc tiến và thu hút đầu tư giai đoạn 2016-2020.

- Kiểm soát chặt chẽ quá trình tiếp nhận, xử lý và trả kết quả giải quyết hồ sơ TTHC đúng thời gian theo quy định; thực hiện nghiêm việc áp dụng hệ thống QLCL TCVN ISO 9001:2015 trong hoạt động quản lý và điều hành của Sở;

5.2. Tiếp tục rà soát, sắp xếp tổ chức bộ máy, chuyển đổi vị trí công tác, tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức của các đơn vị thuộc Sở TN&MT theo theo Nghị quyết số 18-NQ/TW, 19-NQ/TW của BCH Trung ương Đảng khóa XII và Thông tư số 59/2014/TT-BTNMT V/v Quy định danh mục vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức, viên chức ngành TN&MT.

5.3. Tiếp tục đẩy mạnh việc ứng dụng thông tin theo Kế hoạch hành động số 25/KH-UBND ngày 22/3/2016 của UBND tỉnh thực hiện Nghị quyết 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử gắn với cải cách hành chính; vận hành hiệu quả các dịch vụ công trực tuyến mức độ 2, 3 đối với 101 TTHC đã hoàn thành năm 2018; từng bước xây dựng triển khai ứng dụng CSDL đất đai tỉnh Nam Định, hiện đại hoá kho lưu trữ, số hoá tài liệu lưu trữ; 

5.4. Thực hiện nghiêm Chỉ thị số 11/CT-UBND, ngày 9/9/2016 của UBND tỉnh về việc chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương, đạo đức công vụ trong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp tỉnh Nam Định và Chỉ thị số 04/CT-BTNMT về tăng cường hiệu quả công tác CCHC trong cơ quan, đơn vị ngành TN&MT.

4. Sự phối hợp giữa các Sở Tài nguyên và Môi trường; giữa Sở Tài nguyên và Môi trường với Bộ Tài nguyên và Môi trường, với các Sở, ban, ngành và các đơn vị có liên quan.

Trong năm qua Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp chặt chẽ với các đơn vị trược thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường trong các công tác như: Phối hợp thẩm định báo cáo ĐTM các dự án thuộc thẩm quyền của Bộ; tham gia, phối hợp với đoàn thanh tra kiểm tra của Bộ về công tác tài nguyên, môi trường; giải quyết theo đường dây nóng… Bên cạnh đó, sự phối hợp với các Sở, ngành và các đơn vị có liên quan được thực hiện thường xuyên, liên tục, kịp thời trong việc thực hiện công tác quản lý nhà nước về tài nguyên môi trường trên địa bàn tỉnh. Đối với các Sở Tài nguyên và Môi trường cũng thường xuyên giữ liên lạc, học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm trong công tác quản lý tài nguyên, môi trường nói chung.