Yên Bái

Sở TN&MT Yên Bái có Báo cáo số 415/BC-STNMT ngày 17/12/2018 về Quản lý tài nguyên và môi trường tỉnh Yên Bái năm 2018, phương hướng nhiệm vụ trọng tâm năm 2019

I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC NHIỆM VỤ CHUNG

1. Công tác tham mưu xây dựng văn bản

Sở đã tham mưu xây dựng, ban hành 01 văn bản quy phạm pháp luật theo đúng trình tự, thủ tục quy định: Quyết định ban hành tỷ lệ quy đổi từ số lượng khoáng sản thành phẩm ra số lượng khoáng sản nguyên khai làm căn cứ tính phí bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Yên Bái tại Quyết định số 04/2018/QĐ-UBND ngày 19/4/2018; 03 Nghị quyết của Hội đồng nhân dân.

Ngoài ra, trình ban hành Quy chế hoạt động của Hội đồng tư vấn kỹ thuật thẩm định Báo cáo kết quả thăm dò khoáng sản tại Quyết định số 984/QĐ-UBND ngày 15/6/2018 của UBND tỉnh. Ban hành Hướng dẫn số 01/HD-STNMT ngày 15/01/2018 trình tự thủ tục thực hiện thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trên địa bàn tỉnh Yên Bái. Đang trình UBND tỉnh ban hành một số văn bản gồm:

- Quyết định ban hành các đơn giá: Đơn giá sản phẩm đo đạc lập bản đồ địa chính; đơn giá sản phẩm đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và đơn giá sản phẩm xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính tại tỉnh Yên Bái tại Tờ trình số 279/TTr-STNMT ngày 20/6/2018.

- Trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Chỉ thị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh về chấn chỉnh, tăng cường công tác quản lý đất đai trên địa bàn tỉnh Yên Bái tại Văn bản số 1458/STNMT-QLĐĐ ngày 10/8/2018 v/v ban hành Chỉ thị về chấn chỉnh, tăng cường công tác quản lý đất đai trên địa bàn tỉnh Yên Bái.

Sở đã chủ động tham mưu xây dựng, ban hành các văn bản theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện các chính sách pháp luật về tài nguyên và môi trường trên địa bàn tỉnh, tuy nhiên trong quá trình thực hiện còn một số bất cập vướng mắc trong công tác quản lý tài nguyên và môi trường về lĩnh vực đất đai, khoáng sản, môi trường (chi tiết có phụ lục kèm theo).

2. Công tác cải cách hành chính

Đã ban hành Kế hoạch số 03, 04/KH-STNMT ngày 18/01/2018 về triển khai công tác kiểm soát thủ tục hành chính và rà soát đánh giá quy định, thủ tục hành chính của Sở Tài nguyên và Môi trường năm 2018; theo đó, đã thực hiện quy trình xây dựng, ban hành quyết định công bố của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tại Thông tư số 02/2017/TT-VPCP ngày 31/10/2017 của Văn phòng Chính phủ hướng dẫn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính, trình Ủy ban nhân dân tỉnh công bố danh mục thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở, UBND cấp huyện, cấp xã tỉnh Yên Bái tại Quyết định số 1699/QĐ-UBND ngày 07/9/2018. Trình UBND tỉnh công bố danh mục thủ tục hành chính được sửa đổi và thủ tục hành chính bị bãi bỏ lĩnh vực môi trường, địa chất và khoáng sản, tài nguyên nước, khí tượng thủy văn thuộc phạm vi chức năng quản lý của UBND tỉnh tại Tờ trình số 681/TTr-STNMT ngày 16/11/2018.

Qua rà soát 133 thủ tục hành chính, Sở không kiến nghị phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Tài nguyên và Môi trường; UBND cấp huyện, cấp xã.

Đến nay, toàn bộ thủ tục hành chính thuộc trách nhiệm tham mưu giải quyết của Sở Tài nguyên và Môi trường theo đề nghị của các tổ chức, cá nhân đều được tiếp nhận tại Trung tâm Phục vụ Hành chính công tỉnh, trong năm đã tiếp nhận mới 568 hồ sơ đề nghị giải quyết các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở. Tổng số hồ sơ tham mưu giải quyết là 675 hồ sơ, trong đó: Hồ sơ đã tham mưu giải quyết 616 hồ sơ, đạt 91,2%; Hồ sơ đang tham mưu giải quyết 59 hồ sơ chưa đến hạn; thực hiện dịch vụ công trực tuyến: 0 hồ sơ.

3. Công tác kiện toàn bộ máy quản lý tài nguyên và môi trường

Tổ chức thực hiện việc sắp xếp tổ chức bộ máy của ngành tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo Nghị quyết số 18-NQ/TW, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban chấp hành Trung ương theo chỉ đạo của tỉnh; tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc nội dung Kế hoạch số 43 và 44/KH-UBND ngày 12/3/2018 của UBND tỉnh. Trước khi sắp xếp, Sở có 06 phòng chuyên môn, 02 chi cục, 04 đơn vị sự nghiệp thuộc Sở. Sau khi sắp xếp, Sở còn 04 phòng chuyên môn (Văn phòng Sở, Thanh tra Sở, Phòng Khoáng sản, Phòng Tài nguyên nước KTTV&BĐKH), 02 chi cục (Chi cục Quản lý đất đai, và Chi cục Bảo vệ môi trường), 03 đơn vị sự nghiệp thuộc Sở (Trung tâm Công nghệ Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng Đăng ký đất đai và Phát triển quỹ đất, Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường). Kết quả:

- Về tổ chức bộ máy: giảm 02 phòng chuyên môn; giảm 01 đơn vị sự nghiệp; giảm 01 phòng thuộc Chi cục; giảm được 03 phòng thuộc Trung tâm

- Về tinh giản biên chế: Tổng số cán bộ công chức, viên chức và người lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/NĐ-CP là 164 người; năm 2018, đã thực hiện tinh giản biên chế được 05 người (trong đó: 03 nghỉ hưu, 02 thực hiện tinh giản biên chế ở Trung tâm Công nghệ Tài nguyên và Môi trường).

- Về việc thực hiện số lượng cấp phó đối với các phòng và đơn vị không bị vượt so với quy định: tổng số cán bộ cấp phó hiện có của Sở là 18 người. Sau khi sáp nhập: 01 Giám đốc Trung tâm xuống là Phó Giám đốc Trung tâm; 01 Trưởng phòng xuống làm Phó Chi cục trưởng; 02 Phó trưởng phòng xuống làm chuyên viên; 01 Phó Chi cục trưởng xuống làm trưởng phòng thuộc Chi cục;  01 phó Giám đốc Trung tâm xuống làm trưởng phòng thuộc Trung tâm.

- Về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các phòng thuộc Sở và của Chi cục Quản lý đất đai, Trung tâm Công nghệ Tài nguyên và Môi trường sau khi sắp xếp lại: Sở Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quyết định số 301/QĐ-STNMT ngày 10/9/2018 ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ các phòng chuyên môn thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Yên Bái; Quyết định số 219/QĐ-STNMT ngày 02/7/2018 Quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của Trung tâm Công nghệ Tài nguyên và Môi trường tỉnh Yên Bái.

- Việc sắp xếp, bố trí vị trí việc làm của cán bộ, công chức thuộc Sở thực hiện theo đúng Quyết định phê duyệt số 3685/QĐ-UBND ngày 29/12/2017; các trường hợp công chức đề nghị thi nâng ngạch đều đáp ứng đủ tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ của ngạch đăng ký dự thi theo đúng quy định tại Điều 32 Quyết định số 17/2013/QĐ-UBND. Hoàn thành Đề án số 04/ĐA-STNMT ngày 15/10/2018 xác định vị trí việc là và cơ cấu chức danh nghề nghiệp viên chức của các đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Yên Bái, trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt tại Tờ trình số 611/TTr-STNMT ngày 26/10/2018; tại thời điểm báo cáo, Ủy ban nhân dân tỉnh chưa có quyết định phê duyệt.

4. Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo

Thực hiện Quyết định số 348/QĐ-STNMT ngày 15/12/2017 của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường về ban hành kế hoạch thanh tra, kiểm tra năm 2018, Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì và phối hợp tổ chức thực hiện 24 cuộc thanh tra, kiểm tra tại 140 tổ chức. Qua kiểm tra đã phát hiện và lập biên bản đối với 42 tổ chức vi phạm trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, các đoàn kiểm tra đã chuyển hồ sơ vi phạm đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh và Chánh thanh tra Sở để ban hành 37 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền xử phạt trên 1,638 tỷ đồng. Tước quyền sử dụng giấy phép khai thác khoáng sản đối với 02 tổ chức vi phạm các quy định về lĩnh vực khoáng sản. Hoàn thành báo cáo và chuẩn bị hồ sơ tài liệu có liên quan phục vụ các nội dung thanh tra, kiểm tra của các đoàn thanh tra kiểm tra của cấp trên đang thực hiện thanh tra, kiểm tra tại Sở.

Thường trực tiếp 159 lượt công dân. Tiếp nhận 88 đơn; đã xử lý và tham mưu giải quyết 88 đơn. Tính đến 15/12/2018, đã tiếp nhận 05 vụ việc qua đường dây nóng trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, tuy nhiên 01 vụ việc tiếp nhận nhưng nội dung phản ánh chưa chính xác; các vụ việc phản ánh đều được kiểm tra, xác thực tính chính xác và tập trung giải quyết dứt điểm, không để tồn đọng, kéo dài

 II. CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

1. Lĩnh vực quản lý đất đai, đo đạc bản đồ và viễn thám

Thực hiện Nghị quyết số 57/NQ-CP ngày 17/5/2018 của Chính phủ về điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016 - 2020) tỉnh Yên Bái, đã trình UBND tỉnh ban hành Văn bản số 2242/UBND-TNMT về việc phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất cấp tỉnh đến các huyện, thành phố, thị xã để làm căn cứ cho các huyện, thành phố, thị xã hoàn thành việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp huyện theo quy định; thẩm định, trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, trình Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua kế hoạch sử dụng đất năm 2019 của 9 huyện, thành phố, thị xã.

Trình UBND tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất cho 78 tổ chức với tổng diện tích 1.262.801,2 m2; phê duyệt điều chỉnh, bổ sung và cho phép thực hiện các dự án, công trình sử dụng đất năm 2018 trên địa bàn toàn tỉnh. Thẩm định nhu cầu sử dụng đất đối với 196 dự án. Trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 38/KH-UBND ngày 02/3/2018 về thực hiện Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 03/01/2018 của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh, tăng cường công tác quản lý đất đai và xây dựng hệ thống thông tin đất đai trên địa bàn tỉnh Yên Bái.

Việc lập hồ sơ ranh giới sử dụng đất; đo đạc, lập bản đồ địa chính và cấp giấy chứng nhận đối với các Công ty nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái, kết quả đo đạc cho các công ty lâm nghiệp, Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn và Ủy ban nhân dân các huyện Trấn Yên, Văn Chấn và Yên Bình theo quy định. Hiện các đơn vị đang hoàn thiện hồ sơ thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 04 công ty lâm nghiệp theo quy định của pháp luật về đất đai. Khối lượng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được phê duyệt trong Thiết kế kỹ thuật - Dự toán là: 345 giấy chứng nhận, trong đó cấp lần đầu 13 giấy; cấp đổi biến động 332 giấy.

Thẩm định, trình Hội đồng thẩm định, Ủy ban nhân dân tỉnh giá đất cụ thể để thực hiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất cho 113 dự án, công trình; báo cáo UBND tỉnh giải quyết vướng mắc công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng các công trình trên địa bàn tỉnh. Hoàn thành công tác thống kê đất đai năm 2017, thực hiện giao nộp sản phẩm về Tổng cục Quản lý đất đai đảm bảo chất lượng theo quy định. Sở Tài nguyên và Môi trường đã tích cực triển khai thực hiện công tác tạo quỹ đất sạch, tổ chức bán đấu giá; thu ngân sách từ tiền sử dụng đất, đến thời điểm hiện tại, Khối tỉnh đã thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất (tính theo các quyết định phê duyệt kết quả trúng đấu giá và thu nộp tiền đặt cọc qua các phiên đấu giá), số hoàn trả ngân sách tỉnh của dự án sân gôn được 693,0 tỷ đồng; số tiền đã thu nộp ngân sách (tính đến ngày 17/12/2018): 413,0 tỷ đồng (bao gồm cả 30 tỷ tiền hoàn trả của sân gôn), đạt 165% so với chỉ tiêu pháp lệnh là 250 tỷ đồng; 91,7% so với chỉ tiêu phấn đấu thu (giao lần 1) 450 tỷ đồng, đạt 79,4% so với chỉ tiêu phấn đấu thu (giao lần 2 vào ngày 23/10/2018) 520 tỷ đồng.

Kiểm tra, thẩm định bản đồ địa chính cho 132 công trình, dự án; kiểm tra, thẩm định và xác nhận 55 bản đồ địa chính để thực hiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng. Triển khai đôn đốc theo dõi tiến độ thực hiện Dự án tổng thể tại huyện Yên Bình; Dự án đo đạc, lập hồ sơ địa chính tại 04 xã trong vùng trọng điểm của huyện Trấn Yên. Đã phối hợp với Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam tổ chức kiểm tra hoạt động đo đạc bản đồ của 10 tổ chức trên địa bàn tại Quyết định số 422/QĐ-ĐĐBĐVN ngày 24/4/2018. Đến nay, Đoàn kiểm tra đã hoàn thiện báo cáo và tham mưu xây dựng kết luận kiểm tra để làm cơ sở tổ chức xử lý các tổ chức có vi phạm.

Nhìn chung, công tác quản lý nhà nước về đất đai, đo đạc bản đồ và viễn thám của tỉnh có chuyển biến rõ nét, góp phần từng bước nâng cao năng lực quản lý, quản lý tốt nguồn tài nguyên đất đai của tỉnh. Tuy đã đạt được những kết quả tích cực, nhưng vẫn còn một số hạn chế, khiếu kiện về đất đai còn nhiều, việc xử lý tình trạng lãng phí trong sử dụng đất vẫn chưa được khắc phục triệt để.

2. Lĩnh vực tài nguyên nước, khí tượng thuỷ văn và ứng phó với biến đổi khí hậu

Đôn đốc các đơn vị lập hồ sơ cấp phép hoạt động tài nguyên nước, trình UBND tỉnh cấp 19 giấy phép tài nguyên nước. Trình UBND tỉnh phê duyệt 02 phương án nạo vét bồi lấp thanh thải hồ chứa thủy điện. Trình Ủy ban nhân dân tỉnh tiếp tục tổ chức thực hiện tốt các quy định của Luật Tài nguyên nước năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành; triển khai thực hiện các quy định về tài nguyên nước trong văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành như Thông tư 47/2017/TT-BTNMT ngày 07 tháng 11 tháng 2017 quy định về giám sát tài nguyên nước, Thông tư 75/2017/TT-BTNMT ngày  29 tháng 12 năm 2017 quy định về quy định về bảo vệ nước dưới đất trong các hoạt động khoan, đào, thăm dò, khai thác nước dưới đất và các thông tư quy định về định mức kinh tế kỹ thuật các hoạt động có liên quan trong lĩnh vực tài nguyên nước. Trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo quy định tại Nghị định số 82/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017 cho 09 công trình khai thác sử dụng nước của 09 đơn vị.

Sở đã tham mưu triển khai đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến tình hình phát triển kinh tế xã hội; xây dựng Kế hoạch thực hiện thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu để thực hiện trên địa bàn tỉnh. Đã tổ chức Hội nghị giải pháp công nghệ khí tượng thủy văn phục vụ an toàn hồ đập cho các đơn vị thủy điện, thủy lợi trên địa bàn tỉnh Yên Bái triển khai thực hiện các biện pháp chủ động ứng phó với các tình huống thiên tai với 65 lượt người của các đơn vị tham dự.

Công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh đã đi vào nề nếp. Tuy nhiên, còn một số vấn đề đặt ra như sau:

- Các trang thiết bị và các công cụ phục vụ kiểm tra, giám sát tài nguyên nước, hỗ trợ ra quyết định cho các cơ quan quản lý tài nguyên nước của tỉnh còn rất hạn chế. Trên địa bàn tỉnh, hiện mới có 05 trạm thủy văn để quan trắc mực nước trên 05 sông chính (Sông Thao, sông Chảy, Ngòi Hút, Ngòi Thia, Nậm Kim); 04 trạm khí tượng, 21 điểm đo mưa để giám sát lượng mưa. Việc quan trắc, giám sát mực nước ngầm chưa có trang thiết bị và nhân lực thực hiện. Các trang thiết bị hỗ trợ giám sát chất lượng nước mặt, chất lượng nước ngầm không có. Ngoài ra còn có 01 Trạm quan trắc môi trường và lắng đọng axit hồ Thác Bà thuộc Viện Khí tượng thủy văn và Biến đổi khí hậu thực hiện việc quan trắc đánh giá chất lượng môi trường hồ Thác Bà.

- Do điều kiện ngân sách của tỉnh còn hạn hẹp nên nhiều nhiệm vụ đặt ra cho tỉnh trong quản lý nhà nước về tài nguyên nước như: Việc điều tra cơ bản tài nguyên nước, việc lập danh mục các nguồn nước bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt; việc khoanh vùng các khu vực nguồn nước bị cạn kiệt, ô nhiễm, vùng mực nước dưới đất bị hạ thấp quá mức, việc lập danh mục ao hồ, đầm phá không được san lấp, công bố ngưỡng khai thác nước dưới đất... còn chưa đủ điều kiện để triển khai.

Tại tỉnh Yên Bái có nhiều đơn vị nhà nước được giao quản lý các công trình thủy nông, thủy nông kết hợp thủy điện hoặc kết hợp giữa công trình thủy nông và kinh doanh nước sạch thuộc diện phải lập hồ sơ đề nghị giấy phép khai thác sử dụng nước, lập hành lang bảo vệ hồ chứa thủy lợi. Do các đơn vị này đều sử dụng ngân sách nhà nước nên việc chấp hành thực hiện các quy định pháp luật về lập hồ sơ đề nghị cấp phép khai thác sử dụng nước, lập hành lang bảo vệ hồ chứa thủy lợi hầu như không thực hiện được do không có kinh phí để điều tra, khảo sát, đo vẽ, lập hồ sơ các công trình thủy lợi. Điều này cũng gây cản trở rất lớn cho công tác quản lý việc chấp hành pháp luật, xử lý vi phạm trong lĩnh vực tài nguyên nước.

3. Lĩnh vực khoáng sản

Trình Ủy ban nhân dân tỉnh cấp 03 Giấy phép thăm dò khoáng sản; 07 Giấy phép khai thác khoáng sản; 06 Quyết định phê duyệt trữ lượng khoáng sản; 03 Quyết định phê duyệt đề án đóng cửa mỏ; 01 Quyết định đóng cửa mỏ khoáng sản; 01 Quyết định trả lại Giấy phép khai thác; 01 Văn bản chấp thuận khai thác khoáng sản đi kèm; 01 văn bản chấp thuận khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường trong diện tích Dự án xây dựng công trình (thuộc trường hợp không phải cấp phép theo quy định tại Khoản 2, Điều 64 Luật Khoáng sản); 05 Quyết định thu hồi Giấy phép khai thác khoáng sản; phê duyệt Kế hoạch đấu giá quyền khai thác khoáng sản năm 2018. Thực hiện Quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản tỉnh Yên Bái giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2030. Báo cáo kết quả xác định tỷ số chênh lệch giá tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản năm 2018. Trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành 07 Quyết đinh phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản và tiền trúng đấu giá với tổng số tiền trên 13,85 tỷ đồng.

Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành các đợt thanh tra, kiểm tra, rà soát việc chấp hành pháp luật của các đơn vị khai thác khoáng sản nói chung và cát, sỏi nói riêng, cụ thể như sau: đã thực hiện 03 cuộc thanh tra, kiểm tra đối với 45 đơn vị. Kết quả, đã trình Ủy ban nhân dân tỉnh đã dừng hoạt động khai thác của 10 Giấy phép; đề nghị dừng hoạt động của 13 Giấy phép (trong đó: Ủy ban nhân dân tỉnh cấp 09 Giấy phép, Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp 04 Giấy phép). Ngoài ra, đã tiến hành rà soát việc chấp hành pháp luật của các đơn vị hoạt động khoáng sản về: thực hiện, hoàn thiện thủ tục thuê đất; nộp thiết kế mỏ; cắm mốc giới khu vực được cấp giấy phép khai thác khoáng sản; hoàn thành xây dựng cơ bản để đưa mỏ vào khai thác (đối với trường hợp chậm triển khai xây dựng cơ bản mỏ); đề nghị tiếp tục triển khai hoạt động khai thác (đối với trường hợp dừng hoạt động); thực hiện nghĩa vụ đóng cửa mỏ khoáng sản theo quy định; các trường hợp khai thác vượt công suất. Trên cơ sở kết quả rà soát, đã xử lý vi phạm hành chính đối với các đơn vị vi phạm quy định của pháp luật. Tổng số tiền xử lý vi phạm hành chính 11 tháng năm 2018 đối với các đơn vị hoạt động khoáng sản là 1.056,5 triệu đồng/32 trường hợp vi phạm và 02 trường hợp bị tước quyền sử dụng Giấy phép.

Tình hình thực hiện Chỉ thị số 03/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Sở Tài nguyên và Môi trường tham mưu xây dựng văn bản triển khai thực hiện tại Văn bản số 999/UBND-TNMT ngày 19 tháng 5 năm 2015. Năm 2018, tỉnh Yên Bái tiếp tục triển khai thực hiện tốt: Quy định về quản lý hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh Yên Bái; Phương án Bảo vệ khoáng sản chưa khai thác trên địa bàn tỉnh Yên Bái (được Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái phê duyệt tại Quyết định số 1748/QĐ-UBND ngày 21 tháng 9 năm 2015); Chỉ thị số 07/CT-UBND ngày 28 tháng 5 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc tăng cường công tác bảo vệ khoáng sản chưa khai thác trên địa bàn tỉnh Yên Bái; Quy chế phối hợp trong công tác quản lý khoáng sản tại khu vực giáp ranh giữa tỉnh Yên Bái với các tỉnh và chủ động đề nghị Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã tăng cường công tác quản lý, bảo vệ khoáng sản chưa khai thác, ngăn chặn hoạt động khai thác khoáng sản trái phép trên địa bàn quản lý.

Công tác quản lý nhà nước về khoáng sản có chuyển biến rõ nét, góp phần từng bước nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý, quản lý tốt nguồn tài nguyên khoáng sản của tỉnh. Tuy nhiên, vẫn còn có những doanh nghiệp chưa tuân thủ nghiêm các quy định của pháp luật trong hoạt động khoáng sản như: chưa ký hợp đồng thuê đất; ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường; nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản; lập, thẩm định thiết kế mỏ; đóng cửa mỏ khoáng sản; chưa triển khai dự án theo tiến độ xác định trong Dự án đầu tư khai thác. Công tác đôn đốc, xử lý vi phạm trong đóng cửa mỏ còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc do doanh nghiệp không đến làm việc để lập biên bản xử lý vi phạm hành chính; có nhiều trường hợp doanh nghiệp đã giải thể hoặc không có khả năng thực hiện đóng cửa mỏ. Theo quy định của Luật Khoáng sản, trong trường hợp doanh nghiệp đã giải thể hoặc không có khả năng thực hiện đóng cửa mỏ thì việc lập và tổ chức thực hiện đề án đóng cửa mỏ phải thông qua hình thức đấu thầunhững khó khăn vướng mắc trong quản lý cần được Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo, hướng dẫn tháo gỡ (chi tiết có phụ lục kèm theo).

4. Lĩnh vực bảo vệ môi trường

  Trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt: 37 báo cáo ĐTM; 15 phương án CPM; ban hành Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 07 tháng 5 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt điều chỉnh Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050. Xây dựng và trình UBND tỉnh ban hành các Kế hoạch: giám sát nước thải công nghiệp đối với các cơ sở sản xuất phát sinh nước thải công nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái năm 2018; Kế hoạch triển khai mô hình thu gom, vận chuyển xử lý vỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật trên địa bàn huyện Trấn Yên; kế hoạch và dự toán ngân sách sự nghiệp môi trường năm 2019 của tỉnh Yên Bái; Kế hoạch quản lý chất lượng không khí trên địa bàn tỉnh Yên Bái đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025.

Công tác kiểm soát ô nhiễm vẫn tiếp tục tập trung vào các cơ sở có nguy cơ ô nhiễm cao trên địa bàn tỉnh như cơ sở khai thác, chế biến khoáng sản (nhất là quặng sắt, chì kẽm,...), chế biến nông lâm nghiệp (chế biến tinh bột sắn, giấy đế,...), sản xuất xi măng, chăn nuôi tập trung,... Các biện pháp kiểm soát ô nhiễm cũng được đổi mới, hiệu quả hơn nhất là việc thành lập các đoàn kiểm tra đột xuất làm việc cả ngoài giờ hành chính, việc tiếp nhận thông tin từ nhân dân và địa phương về ô nhiễm môi trường để kịp thời ngăn chặn và xử lý; chú trọng thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường; tổ chức các hoạt động thuộc ”Tháng hành động về môi trường” hưởng ứng ngày Môi trường thế giới 05/6/2018 với chủ đề ”Giải quyết ô nhiễm nhựa và túi nilon”; tổ chức hội nghị tập huấn, phổ biến về công tác quản lý chất thải nguy hại cho 153 cơ sở sửa chữa bảo dưỡng xe máy, ô tô, gia công cơ khí quy mô hộ gia đình trên địa bàn thành phố Yên Bái; đào tạo, cấp giấy chứng nhận nghiệp vụ bảo vệ môi trường trong kinh doanh xăng dầu cho 120 tổ chức cá nhân... ;

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Yên Bái có 09 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trong danh sách cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được cấp có thẩm quyền phê duyệt (trước đây có tổng số 13 cơ sở thì đã có 04 cơ sở được chứng nhận hoàn thành xử lý triệt để ô nhiễm môi trường là: Bệnh viện đa khoa tỉnh, Bệnh viện y học cổ truyền, Trung tâm y tế huyện Văn Yên và Nhà máy sắn Văn Yên). Ngoài ra, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo, đề xuất Bộ Tài nguyên và Môi trường đưa Bãi rác thị trấn Yên Thế, huyện Lục Yên vào danh mục các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng để xử lý. Đối với các bãi chôn lấp rác thải rắn sinh hoạt của các huyện còn lại, mặc dù đều là các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh. Tuy nhiên, do tỉnh còn nhiều khó khăn nên chưa bố trí được kinh phí để thực hiện xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường.

Công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm soát ô nhiễm môi trường vẫn tiếp tục được triển khai có trọng tâm, trọng điểm, trong đó tập trung vào các cơ sở, lĩnh vực tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường. Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức thực hiện 20 cuộc thanh tra, kiểm tra tại 72 tổ chức. Qua công tác thanh tra, kiểm tra đã chỉ ra được những hạn chế và các sai phạm trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, xử lý kịp thời đối với những tổ chức, cá nhân có vi phạm; đã xử phạt vi phạm hành chính đối với 19 tổ chức, cá nhân với tổng số tiền xử phạt 1.105, triệu đồng.

Về tình hình chi tiêu ngân sách sự nghiệp môi trường: thực hiện Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật, năm 2017 và 2018, Uỷ ban nhân dân tỉnh Yên Bái tiếp tục phân bổ chi ngân sách cho sự nghiệp bảo vệ môi trường cho các cơ quan, địa phương, đơn vị của tỉnh để thực hiện công tác bảo vệ môi trường (năm 2017 là 66.252 triệu đồng, năm 2018 là 70.502 triệu đồng) như: Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban Quản lý các Khu bảo tồn, Công an tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố và trích Quỹ Bảo vệ môi trường,.... Các cơ quan, đơn vị được phân bổ giao kinh phí sự nghiệp môi trường đã tổ chức sử dụng đúng mục đích, đảm bảo theo quy định pháp luật về chi tiêu tài chính góp phần vào việc mang lại hiệu quả trong công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn. Tuy nhiên, do khó khăn về kinh phí nên hiện nay việc phân bổ kinh phí sự nghiệp môi trường của tỉnh Yên Bái chưa thực sự phù hợp, chưa đáp ứng so với yêu cầu thực tế tại địa phương. Kinh phí sự nghiệp bảo vệ môi trường được chi chủ yếu cho hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải sinh hoạt tại các đô thị trên địa bàn tỉnh (Năm 2017: 47.668/66.252 triệu đồng, chiếm 72%; Năm 2018: 48.151/70.502 triệu đồng, chiếm 68,3%), phần chi cho công tác quản lý nhà nước về môi trường của các sở, ngành, còn rất hạn chế (Đối với Sở Tài nguyên và Môi trường: Năm 2017 và 2018 là 1.000 triệu đồng; Đối với Ban Quản lý các Khu bảo tồn: Năm 2017 và 2018 là 450 triệu đồng; Đối với Công an tỉnh: Năm 2017 và 2018 là 350 triệu đồng; Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh: Năm 2017 là 95 triệu đồng).

Đối với cấp huyện, do kinh phí sự nghiệp môi trường được phân bổ còn hạn chế nên toàn bộ nguồn kinh phí này được bố trí cho công tác thu gom rác thải sinh hoạt, chưa có kinh phí cho Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện để thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước bảo vệ môi trường trên địa bàn quản lý.

Nhìn chung, công tác quản lý nhà nước về môi trường đã có chuyển biến tích cực, Sở đã quan tâm chỉ đạo, đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây tình trạng một số cơ sở khai thác, chế biến quặng sắt trên địa bàn huyện Trấn Yên, Văn Chấn đã gây ra những điểm nóng về ô nhiễm môi trường trong tỉnh, liên tỉnh; các nhà máy xi măng không vận hành thường xuyên liên tục thiết bị xử lý môi trường cũng đã và đang gây ra những dư luận xấu về vấn đề môi trường; việc đẩy mạnh xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường còn hạn chế; thiếu vốn đầu tư cho các công trình bảo vệ môi trường, kiểm soát ô nhiễm môi trường.

III. ĐỀ XUẤT NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM NĂM 2019

1. Thực hiện việc sắp xếp tổ chức bộ máy của ngành tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo Nghị quyết số 18-NQ/TW, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/ 10 / 2017 của Ban chấp hành Trung ương theo chỉ đạo của tỉnh; trình Đề án thành lập Văn phòng Đăng ký đất đai một cấp theo đúng quy định của pháp luật đất đai. Tiếp tục chấn chỉnh tác phong, lề lối làm việc của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong ngành khi thực hiện nhiệm vụ và giải quyết công việc đối với các tổ chức, đơn vị và công dân.

2. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cải cách hành chính, cải thiện chỉ số cải cách hành chính của Sở so với năm 2018. Từng bước cung cấp dịch vụ công trực tuyến đạt mức độ 3, 4 theo lộ trình.

3. Chủ động tham mưu thể chế hóa các quy định của văn bản pháp luật phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh, trọng tâm tham mưu ban hành các văn bản thuộc thẩm quyền theo phân cấp, tuyên truyền về Luật Đo đạc và Bản đồ và các văn bản hướng dẫn thi hành.

4. Chấn chỉnh công tác đo đạc lập bản đồ địa chính và lập, cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính trên địa bàn tỉnh; Thực hiện việc rà soát, thống kê xây dựng bộ cơ sở dữ liệu về thực trạng quản lý, sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn tỉnh để tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh các biện pháp quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai khắc phục tình trạng sử dụng đất lãng phí, không hiệu quả. Thực hiện các nội dung liên quan đến đất nông lâm trường theo Nghị quyết số 112/2015/QH13 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27//2015 và các nghị định, văn bản có liên quan theo quy định.

  5. Sửa đổi, bổ sung và tổ chức thực hiện đề án phát triển quỹ đất giai đoạn 2018 - 2020; hoàn thành chỉ tiêu thu ngân sách tiền sử dụng đất theo kế hoạch được giao năm 2019.

  6. Tiến hành rà soát hoạt động của các đơn vị khai thác khoáng sản, đề xuất thu hồi Giấy phép khai thác đối với các dự án khai thác vi phạm theo quy định; rà soát các trường hợp đã có văn bản thỏa thuận hoạt động khoáng sản của Ủy ban nhân dân tỉnh và đề xuất xử lý, giải quyết các bước tiếp.

  7. Tiếp tục tập trung vào công tác phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm môi trường, không để xảy ra điểm nóng về môi trường trên địa bàn tỉnh.

  8. Hoàn thành thực hiện việc thẩm định, tính tiền, trình phê duyệt tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước đối với tất cả các đơn vị khai thác sử dụng nước đã được cấp phép. Tăng cường giám sát việc khai thác sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước theo quy định.

  9. Chủ động xây dựng các Chương trình, nhiệm vụ, dự án để tranh thủ các nguồn vồn đầu tư từ ngân sách nhà nước và các nguồn vốn hợp pháp khác để tổ chức triển khai thực hiện theo quy định của pháp luật.

  10. Thanh tra, kiểm tra các tổ chức thuê đất trồng rừng kinh tế, các dự án chậm đưa đất vào sử dụng theo dự án đầu tư, các được cấp Giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ đóng trên địa bàn tỉnh, các dự án phát triển quỹ đất, các dự án thủy điện và công tác thu hồi, bồi thường, giải phóng mặt bằng, đăng ký cấp giấy chứng nhận, chỉnh lý hồ sơ địa chính tại thành phố Yên Bái.

  IV. SỰ PHỐI HỢP GIỮA CÁC SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG; GIỮA SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG VỚI BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG, VỚI CÁC SỞ, BAN, NGÀNH VÀ CÁC ĐƠN VỊ KHÁC CÓ LIÊN QUAN

  Trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ, Sở Tài nguyên và Môi trường Yên Bái luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Tài nguyên và Môi trường; thực hiện nghiêm chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất đảm bảo chất lượng và thời gian theo yêu cầu, phản ánh kịp thời những kết quả, khó khăn, tồn tại và tranh thủ được ý kiến chỉ đạo của Bộ để tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tại địa phương.

Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Yên Bái chủ động phối hợp với các Sở Tài nguyên và Môi trường thuộc Cụm Thi đua số III và trong khu vực, các Sở, ban, ngành liên quan của tỉnh phối hợp tốt kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện để trao đổi thông tin, kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý hoàn thành chức năng, nhiệm vụ được giao, cùng phấn đấu thực hiện các giao ước thi đua đã ký kết.