Thứ 4, 20/10/2021 - 17:46
Tin mới
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Hiện trạng và vấn đề cấp bách cân tăng cường quản lý chất thải rắn

Hiện trạng chất thải rắn hiện nay đòi hỏi cần thiết phải có ngay các giải pháp cấp bách tăng cường quản lý, góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đất nước

Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn

Hiện nay, khối lượng rác thải phát sinh trên cả nước khoảng 61.000 tấn/ngày, trong đó khối lượng phát sinh tại khu vực đô thị là 37.000 tấn/ngày, khu vực nông thôn là 24.000 tấn/ngày; tỷ lệ thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải ở cả đô thị và nông thôn tăng dần theo từng năm, tuy nhiên tỷ lệ thu gom trung bình tại đô thị mới đạt khoảng 85,5% và tại nông thôn mới đạt khoảng 45- 60%; rác thải được xử lý chủ yếu bằng công nghệ chôn lấp (khoảng 71%), còn lại được xử lý bằng phương pháp khác như sản xuất phân compost, thiêu đốt hoặc thiêu đốt có thu hồi năng lượng và một số công nghệ khác.

Khối lượng chất thải rắn công nghiệp thông thường (CTRCNTT) phát sinh khoảng 8,1 triệu tấn/năm, chưa bao gồm tro, xỉ, thạch cao phát sinh từ các nhà máy nhiệt điện, hóa chất, phân bón và đất, đá thải từ ngành công nghiệp khai thác khoáng sản. Tỷ lệ thu gom chất thải rắn công nghiệp khá cao, đạt trên 90% khối lượng chất thải rắn công nghiệp phát sinh. Hầu hết các cơ sở trong khu công nghiệp đã thực hiện ký hợp đồng với các đơn vị có chức năng để thu gom, xử lý.

Công tác quản lý chất thải nguy hại (CTNH) trong thời gian qua đã có các chuyển biến tích cực; tỷ lệ CTNH được thu gom, xử lý đúng quy định ngày càng tăng. Tuy nhiên, hiện nay các công nghệ xử lý CTNH vẫn còn tập trung nhiều vào xử lý (tiêu hủy, đóng kén chôn lấp...) mà chưa hướng đến việc tái sử dụng, tái chế nhằm tận dụng hết các thành phần có ích trong chất thải.

Ngoài ra, hàng năm trong hoạt động nông nghiệp phát sinh khoảng hơn 14.000 tấn bao gói thuốc bảo vệ thực vật, phân bón các loại sau sử dụng trong khi việc thu gom, xử lý còn nhiều bất cập.

Các tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý chất thải rắn hiện nay

Đối với rác thải, các tồn tại chính như sau: 

Thứ nhất, việc quản lý chưa được áp dụng theo phương thức quản lý tổng hợp, chưa chú trọng đến các giải pháp giảm thiểu; chất thải hầu hết chưa được phân loại tại nguồn; + Hoạt động thu gom rác thải ở khu vực nông thôn còn thấp, chưa có nhiều cải thiện; 

Thứ hai, hoạt động tái chế còn mang tính nhỏ lẻ, tự phát; phần lớn các cơ sở tái chế có quy mô nhỏ, mức độ đầu tư công nghệ không cao, công nghệ lạc hậu, máy móc thiết bị cũ, gây ô nhiễm môi trường thứ cấp; 

Thứ ba, phương thức xử lý chủ yếu vẫn là chôn lấp không hợp vệ sinh, tiêu tốn quỹ đất, nhiều cơ sở xử lý rác thải đã được xây dựng và vận hành chưa đạt yêu cầu về bảo vệ môi trường, gây ô nhiễm môi trường nước, đất và không khí.

Đối với CTNH và CTRCNTT, các tồn tại chính như sau:

Thứ nhất, các cơ sở xử lý CTNH được cấp phép nhìn chung còn ở quy mô vừa và nhỏ; còn thiếu các khu xử lý CTNH và CTRCNTT tập trung quy mô lớn; 

Thứ hai, một số chủ nguồn thải CTNH chưa thực hiện đúng quy định chuyển giao CTNH cho đơn vị được cấp phép phù hợp, trong nhiều trường hợp còn thải chung với chất thải thông thường; một số cơ sở xử lý CTNH không thực hiện đúng quy định và không đúng với giấy phép được cấp; 

Thứ ba, một số loại CTRCNTT như tro xỉ nhà máy nhiệt điện, tro bay đang phát sinh với khối lượng lớn không đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng làm vật liệu xây dựng đang là vấn đề cấp bách cần giải quyết.

Đối với chất thải nông nghiệp, các tồn tại là: Sau khi Thông tư liên tịch số 05/2016/TTLT-BNNPTNT-BTNMT ngày 16 tháng 5 năm 2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc thu gom, vận chuyển và xử lý bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng được ban hành, các địa phương từng bước triển khai thực hiện, xây dựng các bể chứa bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng, thu gom bao gói sau khi phun thuốc, để đúng nơi quy định. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, nhiều địa phương gặp những vướng mắc về nguồn kinh phí đầu tư ban đầu xây dựng các bể, kho lưu chứa cũng như chưa đáp ứng đủ kinh phí rất lớn hàng năm cho việc vận chuyển, xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng.

6 nhóm nguyên nhân chủ yếu

Thứ nhất, bất cập trong tổ chức bộ máy về quản lý chất thải rắn: Việc giao thoa, chồng chéo về chức năng quản lý nhà nước tại trung ương và địa phương trong lĩnh vực chất thải rắn đã gây khó khăn trong công tác quản lý; 

Thứ hai, hệ thống cơ chế, chính sách, các quy định, hướng dẫn liên quan đến công tác quản lý chất thải rắn còn chưa hoàn thiện. Hiện đang còn thiếu các hướng dẫn lựa chọn công nghệ, hướng dẫn kỹ thuật phù hợp về thu gom, lưu giữ, xử lý rác thải; 

Thứ ba, việc điều tra, dự báo về chất thải rắn chưa chính xác dẫn đến việc xây dựng và triển khai quy hoạch quản lý chất thải rắn còn hạn chế; 

Thứ tư, việc huy động các nguồn lực cho quản lý chất thải rắn còn hạn chế. Nguồn ngân sách nhà nước đầu tư cho quản lý chất thải rắn không đáp ứng yêu cầu. Mức phí thu gom rác thải từ các hộ gia đình còn quá thấp so với chi phí thu gom, vận chuyển và xử lý. Việc huy động nguồn lực từ các doanh nghiệp ngoài nhà nước để đầu tư xây dựng khu xử lý, nhà máy xử lý chất thải rắn còn gặp nhiều khó khăn; 

Thứ năm, năng lực quản lý rác thải của nhiều địa phương còn hạn chế. Cơ sở hạ tầng, nguồn kinh phí và nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong công tác quản lý chất thải; 

Thứ sáu, nhận thức, ý thức trách nhiệm về quản lý chất thải rắn của chính quyền, người dân và doanh nghiệp còn chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong công tác quản lý chất thải rắn; 

Với hiện trạng như trên, việc xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị về một số giải pháp cấp bách tăng cường quản lý chất thải rắn là vấn đề cấp thiết hiện nay, góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan